Barry Black, người tôi tớ gây niềm tự hào trong tôi

1:32 AM |
Chaplain of the U.S. Senate
Mấy lúc gần đây, đặc biệt vào thời điểm chánh phủ liên bang Hoa Kỳ phải đóng cửa, mà hệ lụy của nó đã tác động mạnh đến đời sống hàng ngày của mỗi người dân, thì truyền thông Mỹ hay nhắc đến hình ảnh và phát ngôn của một nhân vật, mà vị trí của ông  không phải là thành phần dân cử hoặc cơ quan Nhà Trắng, mà chức vụ và vai trò chính thức lại là Tuyên Úy trưởng (thứ 62) của Thượng viện Hoa kỳ (62nd Chaplain of the U.S. Senate).
Vào Google dò tìm lý lịch, mới hay danh tánh của vị này chính là mục sư truyền giảng Barry Black mà tôi đã theo dõi trên Hope Channel về loạt bài của ông tựa đề, ‘Chốn cao hơn’ (Higher Ground).
Ông là một mục sư da đen, người Cơ đốc Phục lâm, từng làm Tuyên úy trường của Hải quân Hoa Kỳ trước khi được bầu chọn trở thành Tuyên úy của Thượng viện từ 10 năm nay.
Điều đáng nói mục sư Barry Black là người da đen đầu tiên và đặc biệt hơn nữa là mục sư CĐPL đầu tiên đảm nhiệm chức vụ này  trong khi cả Thượng viện không có nghị sĩ nào là người Cơ-đốc. Từ 10 năm nay ông là khuôn mặt nổi bật không hẳn trong trách vụ chăm lo đời sống tinh thần cho các nghị sĩ và nhân viên mà còn là một người được khá nhiều nghị sĩ tin cậy khi tìm đến ông để tham vấn về các vấn đề quốc kế dân sinh trong sinh hoạt chung của Quốc hội Hoa kỳ, cơ quan quyền lực cao nhất của Hiệp chủng quốc.
Vậy Barry Black, ông là ai?
Xuất thân là con trai của một gia đình đông anh chị em (8 người), cha là tài xế xe tải đường dài, mẹ là nội trợ chăm sóc con cái. Thu nhập  không đủ sống  phải dựa vào trợ cấp xã hội của chánh phủ. Nhiều lúc lâm vào cảnh bị đuổi nhà vì không trả tiền thuê đúng kỳ hẹn, chuyện thiếu đồ ăn trong nhà cũng thường xẩy ra. Lý do vì bà mẹ luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, chịu trả học phí cho các con học trường Cơ Đốc, vì trường công nơi gia đình bà cư ngụ có nhiều con em khu phố vốn dĩ nghịch ngợm, hút sách, cha mẹ bỏ bê…
Lên  đại học, bản thân ông đã đậu hai bằng Thạc sĩ, rồi hai bằng Tiến sĩ, một về Mục vụ, một về Tâm lý học, tại các trường đại học nổi tiếng của Giáo hội và nước Mỹ. Trong chức vụ hầu việc Chúa, ông chọn con đường Tuyên úy Hải quân từ lúc còn là Thiếu úy, dần dần lên đến cấp  hàm Hải quân Đề đốc (tướng 2 sao) với chức Tuyên úy trưởng của Hải quân Mỹ trước khi xuất ngũ sau 27 năm lo mặt tinh thần cho binh chủng Hải quân và trở thành Tuên úy trưởng của Thượng viện ngay sau ngày giải ngũ.
Tại Thượng viện ông vốn nổi tiếng về những Lời cầu nguyện trước khi khai mạc các phiên họp quan trọng của Quốc hội. Nội dung không chỉ là chung chung mà hàm ý những tư tưởng xúc tích, thiết thực cho từng vấn đề mà các nghi sĩ sắp đi vào thảo luận, bàn bạc và biểu quyết để nài xin Thiên chúa soi dẫn, mở đường cho những giải pháp, chính sách được sự đồng thuận cao nhất. Cũng cần nói thêm, dù Hạ viện có một Tuyên úy riêng, nhưng Mục sư Barry Black cũng hay được mời dâng lời cầu thay trong các phiên nhóm định kỳ của cơ quan dân cử này.
Trong thời điểm có sự kiện chánh phủ liên bang phải đóng cửa, ông đã có những phát biểu lồng trong lời cầu nguyện trước các cuộc họp khoáng đại để tha thiết xin Chúa thêm sức và sự khôn ngoan cho các thành viên vì quyền lợi quốc gia, và người dân Mỹ để vượt trên các bất đồng do áp lực của đảng phái, phe nhóm, cá nhân. Phát ngôn thẳng thắn, đầy thuyết phục và uy tín của một Tuyên úy trưởng đã được truyền hình trực tiếp hoặc trích dẫn liên tục trong các bản tin quốc tế quốc nội, trong chừng mực nào đó có tác động đến tâm tư và thái độ của những nghị sĩ lưỡng đảng tại Quốc hội.
Cũng tự hào thay, giới truyền thông hay nhắc đến ông như một mục sư CĐPL, có học vấn uyên bác, một đề đốc hết lòng phục vụ cho quân đội, một tuyên úy tận tụy chăm lo đời sống tinh thần, tâm linh cho các thành viên bất kể tín ngưỡng. Từ lợi điểm này  mặc nhiên PR cho đạo Cơ đốc của mình dù đã được nhìn nhận sau 150 năm chính thức hiện hữu với những thành tích đáng khâm phục trên các lãnh vực truyền giáo, giáo dục, y tế, dinh dưỡng, cứu trợ… nhưng vẫn chưa  được nhiều người Mỹ biết đến do số tín đồ Bắc Mỹ mới chỉ hơn một triệu so với trên 300 triệu dân toàn vùng. Cũng trên trang/danh mục Barry Black, biết ông là người CĐPL, Google đã thêm một cột nói về bà Ellen G. White, một trong những người sáng lập và các tư tưởng chủ đạo của phong trào CĐPL toàn cầu.  
Nay quay sang công tác truyền giảng, đây mới là nét đặc thù của người tôi tớ dù phục vụ cho đời trong vai trò tuyên úy, nhưng cơ bản truyền rao lời Chúa vẫn là niềm trăn trở và sở học của ông.
Tôi có cơ may theo dõi một số bài giảng của ông qua video trong giờ học sa-bát, được biết ông có lối giảng theo khuyng hướng chính thống, khúc triết, nặng về sư phạm. Trước bục giảng lúc nào cũng có tấm bảng ghi một dàn bài cho từng đề mục. Nội dung thế nào cũng phải có các câu Kinh thánh trích dẫn, chữ to, lấp lánh rất tiệp với câu chữ ông soạn, giọng khỏe (nhưng không ‘hét’ như một vài vị tôi đã gặp). Bài giảng sâu sắc, dễ hiểu, đặc biệt hay đưa các trải nghiệm bản thân, gia đình, cộng đồng vào bài giảng, chẳng dấu xuất thân con nhà nghèo, cũng chẳng dấu ‘dốt’ vì có lúc bị con ‘D’ dù đã theo học chương trình Tiến sĩ.
Chuyện ăn uống, tôi nhớ ông có chia sẻ đôi lúc nhà thiếu đồ ăn, nhằm ngày sa-bát bà mẹ phải nói ‘kiêng ăn cầu nguyện’,  nhưng hết giờ tịch dương khó cho bà khi ứng xử với các con. Sau này ông kinh nghiệm khi tôi tớ Chúa đi giảng cần chú trọng việc bồi dưỡng thuộc thể, ‘có thực  mới vực được đạo’ như các cụ ta hay nói.
Thấy sức khỏe ông tốt, nhiều người ngạc nhiên, ông cho biết quen ăn chay từ nhỏ, cả gia đình cùng ăn, một phần hợp với túi tiền, lại thấy lành mạnh, riết không thích ăn thịt, chẳng hề đả động đến chuyện thịt heo thịt chuột hay đoán xét ai trong bài giảng. 
Khép lại ít hàng sưu tập về Barry Black, ngưòi tôi tớ được đầy ơn trong công tác tuyên úy và hầu việc Chúa, người viết trong tư cách một kẻ đồng đạo rất đỗi tự hào khi có người anh em làm sáng danh Chúa, vừa qui vinh hiển về cho Đấng Tối Cao, vừa làm tấm gương sống đạo để mọi người cùng mừng vui và chia sẻ.
Cũng xin thay lời để chia sẻ một thông điệp nhỏ mà Mục sư Barry Black muốn gởi gấm đến các bạn trẻ, ’Đừng nên để những vướng bận vụn vặt đời thường chi phối các bạn, mà luôn tập trung vào con đường, mục tiêu Chúa đã sắp xếp cho từng người.”

Thảo Đỗ (sưu tầm)

(*) cần tham khảo thêm xin vào Google, danh mục Barry Black, (62nd Chaplain of the U.S. Senate)

Tuyển tập Videos Sống Vui Sống Khoẻ

7:00 AM |

Khi có cha là tỷ phú

8:08 AM |
http://o.aolcdn.com/dims-global/dims3/GLOB/resize/800x400/http://www.blogcdn.com/www.dailyfinance.com/media/2013/05/warren-buffett-obama-900cs050713.jpg
“If you’re in the luckiest one per cent of humanity, you owe it to the rest of humanity to think about the other 99 per cent.” ― Warren Buffett




Peter chụp ảnh cùng các em nhỏ châu Phi trong một chuyến từ thiện.

Là con trai thứ hai của nhà tỷ phú huyền thoại Warren Buffett, nhưng nói tới Peter Andrew Buffett người ta nhớ tới ngay một nhạc sĩ kiêm nhà soạn nhạc nổi tiếng. Dấu ấn duy nhất nhà tỷ phú này khắc lên con đường trở thành người nổi tiếng của con mình chỉ là sự tin tưởng…

Năm 19 tuổi, Peter nhận được số tiền thừa kế… 90,000 Mỹ kim. Gần 100,000 đô, “not bad” nếu như bạn xuất thân trong một gia đình bình thường. Nhưng nếu có cha là tỷ phú có khối tài sản hàng chục tỷ đô thì bạn nghĩ sao?

Và đây là tài sản thừa kế duy nhất của anh em nhà Buffett nhận được từ người cha nổi tiếng của họ.

Số tiền $90.000 mà ông Warren cho họ là tiền bán một trang trại của gia đình, họ cũng chẳng được nhận tiền mặt. Tiền được đổi thành cổ phiếu của công ty Berkshire Hathaway mà tỷ phú Warren làm chủ tịch và Peter được cha trao cho kèm với lời dặn dò: “Hãy thận trọng với món quà này. Vì con sẽ không bao giờ nhận được thêm gì nữa”.

Và con của nhà Buffett quả là con nhà tông. Trong cuốn hồi ký mới của mình Life Is What You Make It, Peter giải thích rằng ông may mắn vì cha mình đã không để lại tài sản cho con cái một cách dễ dàng. Để trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng với giải thưởng Emmy, điều Peter cần là những hỗ trợ tinh thần chứ không phải tiền bạc.

Sau đó Peter đã bán cổ phiếu lại cho cha mình để lấy tiền mặt chi xài trong thời gian học tại Đại học Stanford và bắt đầu sự nghiệp sáng tác nhạc.

Để thành danh trong lĩnh vực nghệ thuật không phải chuyện một sớm một chiều và đòi hỏi sự đầu tư tiền bạc khá lớn. Vậy mà ngoài số tiền thừa kế, tỷ phú Warren đã nói thì như đinh đóng cột, nhất quyết không cho con thêm bất cứ thứ gì nữa, kể cả cổ phiếu trong công ty của ông.

Một lần khi 20 tuổi, Peter hỏi vay cha tiền nhưng bị từ chối. Điều này khiến anh thấy tổn thương và cha con họ không liên lạc với nhau một thời gian dài. Chỉ tới khi gặt hái được thành công, Peter mới hiểu rằng quyết định của cha lúc ấy là hoàn toàn đúng đắn. “Nếu tôi có một đống tiền từ cha tôi thì có lẽ cuộc sống của tôi đã không có ý nghĩa như ngày hôm nay. Tôi tin rằng những gì cha tôi làm xuất phát từ tình yêu thương. Ông đã từng nói với tôi rằng: Cha tin con vì con là con trai của cha. Con sẽ vẫn thành công mà không cần sự giúp đỡ của bất kỳ ai”.

Cách dạy con của ông tỷ phú càng đáng nể hơn nếu biết $90.000 là tài sản thừa kế duy nhất mà Peter Buffett cũng như anh chị em của ông nhận được, nhưng bù lại, họ được cha trao cho khoảng 1 tỷ đô để làm từ thiện. Peter và vợ ông đã dành nhiều năm để nghĩ cách làm từ thiện sao cho hiệu quả nhất.

Cuối cùng, họ đã thành lập Novo Foundation – một tổ chức phi lợi nhuận dành cho phụ nữ và trẻ em trên toàn thế giới. Hai người con còn lại của tỷ phú Warren cũng có những đóng góp đáng kể trong hoạt động từ thiện. Howard Buffett thành lập tổ chức giúp đỡ những nông dân nghèo khó tại các quốc gia kém phát triển với mục tiêu tăng cường sản xuất lương thực ngăn ngừa nạn đói. Susie Buffett thì thành lập quỹ hỗ trợ hoạt động giáo dục cho trẻ em và thúc đẩy việc tuyên truyền phòng chống mang thai ở trẻ vị thành niên.

image
Peter, con trai thứ hai của nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett, chụp ảnh cùng các em nhỏ châu Phi trong một chuyến từ thiện

Warren Buffett là cổ đông lớn nhất, kiêm Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway và đứng trong top 3 những người giàu nhất thế giới do tạp chí Forbes bình chọn. Những gì các con ông đạt được cho thấy, điều ông dạy họ không phải là tiền bạc và cách kiếm tiền mà đơn giản chỉ là cách sống. Peter tin rằng mình đã được cha “đầu tư” đúng mực với cách giáo dục tốt nhất mà nhiều người ước ao. Ông hóm hỉnh: “Điều mà tôi ngưỡng mộ nhất ở cha tôi là sự tin cậy. Sự tin cậy là điều quan trọng nhất”.

Warren rất ít khi nói chuyện với các con về chuyện làm ăn. Ông quan tâm tới những triết lý của cuộc sống, chẳng hạn như: “Các con không cần phải thử sức trên tất cả các lĩnh vực. Khi con đã sẵn sàng để đầu tư (ví dụ như nhà đầu tư cổ phiếu), con chỉ cần tưởng tượng nó giống một quả bóng tròn đang di chuyển từ từ”.

Đối với Warren, việc tìm cho các con một công việc ở Wall Street hay công ty Berkshire Hathaway của ông để duy trì đế chế của gia đình Buffett hoàn toàn đơn giản. Vậy mà ông lại chứng tỏ mình là một người cha tuyệt vời khi để các con trưởng thành theo cách riêng.

Peter Buffett nói rằng món quà lớn nhất có thể tặng cho cha là đi theo bước chân của ông, bằng cách tin tưởng vào chính mình. Năm 1977, khi Peter còn nhỏ, Berkshire Hathaway của Warren Buffett đã mua lại tờ The Buffalo Evening News bất chấp thực trạng ngành báo in đang điêu đứng, lượng phát hành và quảng cáo đã giảm nghiêm trọng. Giờ thì tờ báo này đã là The Buffalo News bề thế.

Đối với Warren Buffett thì những thứ cũ, lỗi thời cũng không làm ông lay chuyển lối sống. Peter vẫn đến thăm cha tại Omaha, Nebraska. Cha ông vẫn sống trong ngôi nhà mà Peter từng lớn lên, bất chấp sự giàu có vô biên của ông.

Cũng chính nhờ bài học lớn của người cha về niềm tin mà Peter đã có những quyết định sáng suốt cho cuộc sống của mình. Sau khi soạn nhạc cho Dances with Wolves (Khiêu vũ với bầy sói), phim đoạt giải Oscar, ông nhận được khá nhiều lời mời từ các hãng phim của Hollywood. Họ sẵn lòng mời gia đình ông chuyển từ Milwaukee đến Los Angeles nếu ông muốn trở thành một nhà soạn nhạc phim lừng danh.

Peter từ chối, vì “Tôi đã nghĩ về cha mình. Tại sao cha tôi không chuyển đến New York, để gần Wall Street hơn? Khi xem lại cách thức cha tôi làm việc trong những năm qua, tôi nhận ra rằng không nên chọn một công việc nào đó chỉ bởi vì việc đó nhìn hấp dẫn hơn”.

Giờ đây, các con của tỷ phú Warren Buffett hiểu rằng “nếu tin cha sẽ ra tay cứu giúp mỗi khi mình gặp rắc rối về tài chính thì bất cứ thành công nào đạt được không còn giá trị nữa”. Và đến bây giờ, mọi người đều biết rằng, những gì con cái nhà Warren có được chẳng hề liên quan đến sự giàu có của cha họ.



 MillionDollarMan says: 
We could be dead tomorrow, make it happen today. Call that contact for a meeting!   “Every tomorrow has been uncertain.”  
-  Warren Buffett 


 Theo Milliondollarlist, CNBC






Khi có cha là tỷ phú

8:08 AM |
http://o.aolcdn.com/dims-global/dims3/GLOB/resize/800x400/http://www.blogcdn.com/www.dailyfinance.com/media/2013/05/warren-buffett-obama-900cs050713.jpg
“If you’re in the luckiest one per cent of humanity, you owe it to the rest of humanity to think about the other 99 per cent.” ― Warren Buffett


Lễ Tấn Phong Mục sư Thạch Long Hạnh

4:23 PM |


THIỆP MỜI

Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm tại Oakland, California trân trọng thông báo và kính mời quý tín hữu vui lòng đến dự

Lễ Tấn Phong
Mục sư Thạch Long Hạnh


Thứ Bảy, ngày 28 tháng 9 năm 2013, vào lức 4 giờ chiều
tại Thánh Đường Cơ Đốc Phục Lâm Oakland
900 34th Street, Oakland, CA  94608-4212; (510) 967-0582
Sự hiện diện của quý vị sẽ làm phần long trọng cho buổi lễ và là một khích lệ lớn cho
Hội Thánh chúng tôi. Sau buổi lễ sẽ có tiệc thông công

Khách mời:
James E. Pedersen, Hội Trưởng, NCC President
Walter Groff, Director, Ministerial
Virgil Childs, Coordinator, African-American Ministries
William Gemora, Coordinator, Asian-Pacific Ministries
Willie Johnson, Senior Pastor, Fairfield SDA Church
Mục sư Trần Ngọc De, Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm tại San Jose
Nguyễn Khác Vinh, Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm tại El Monte
Ngô Duy Cường, Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm tại  Portland

INVITATION
You are cordially invited to the attend the ordination service
of
Long Thatcher (Hanh Long Thach)
to the Gospel of Ministry of Seventh-day Adventist Church

Sabbath, September 28th, 2013 at 4:00 p.m.
Oakland Market Street Seventh-day Adventist Church
900 34th Street, Oakland, CA  94608-4212; (510) 967-0582

Your presence will be a great honor for our church.
Reception following service

Special Guests:
James E. Pedersen, NCC President
Walter Groff, Director, Ministerial
Virgil Childs, Coordinator, African-American Ministries
William Gemora, Coordinator, Asian-Pacific Ministries
Willie Johnson, Senior Pastor, Fairfield SDA Church
Tran Ngoc De, Senior Pastor, San Jose Vietnamese SDA Church
Nguyen Khac Vinh, Senior Pastor, El Monte Vietnamese SDA Church
Ngo Duy Cuong, Senior Pastor, Portland Vietnamese SDA Church

TRẠI HÈ “PHỤC HƯNG” 2013

9:54 PM |
Mời xem  >> Ghi nhận trại Hè Phục Hưng 2013
Ghi nhận và hình ảnh: Trương Công Khả, Ngô Long

Nửa đời nhìn lại

1:45 PM |
 
thơ  Đỗ Xuân Tê
Nửa đời, nhìn lại
dĩ vãng, như dòng sông
một đi, không trở lại
còn gì, mà ngóng trông
Nửa đời,  nhìn lại
tuổi già, như bến đợi
tuổi thơ, như hạt châu
long lanh, ngày tháng cũ
nhạt nhòa, theo bóng câu
Nửa đời,  nhìn lại
cuộc đời như đã mất
dù chẳng một lần thua
sa chân, chốn lao tù
tủi hờn, hồn viễn xứ
Nửa đời, nhìn lại
chim bằng, nay mỏi cánh
dòng đời, như vẫn trôi
mộng đời, như ngăn lối
tình đời, như phai phôi…
Cuối đời ta nhìn lại
mới ngộ ra một điều
đời người là lao khổ
sự đời  là hư vô
Nay, đời ta có Chúa
tâm trí, hằng thảnh thơi
mất còn, không nhìn lại
thua được, chuyện đã qua
sự lời, thay sự lỗ
vì có Chúa, ở cùng ta  (1)



(1) PHI-LÍP 3:8 “Tôi cũng coi hết thẩy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus-Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi đều lợi đó. Thật tôi xem những điều đó nhu rơm rác, hầu cho được Đấng Christ.”


Tiếng Việt mình và thế hệ cháu tôi .

7:05 AM |
                              http://www.vietsda.org/vietngucodoc
Đỗ Xuân Tê
    Hơn bốn mươi năm trước khi tôi đi Mỹ để tu nghiệp ngành thông tin báo chí, tôi có dịp gặp gia đình Tiến sĩ Nguyễ Sỹ Thăng tại Chicago, một thành phố gần trường tôi học. Anh chị cũng mới sang Mỹ trước đó mấy năm trong cao trào chảy máu chất xám từ Âu châu để nhận một chân giảng dạy môn Vật lý cho một đại học tại thành phố này.
Tôi vào thăm giảng đường ngồi chờ anh. Tiếng Anh của anh lúc này accent còn nặng âm điệu tiếng Pháp, nhưng về phương cách giảng dạy trên bục giảng thì đám sinh viên Mỹ có vẻ phục và chú ý theo dõi. Chị làm part-time cho một công ty nhỏ, chủ yếu lo phần nội trợ, nuôi dạy cháu gái là bé Trâm (Michelle) và lo cho tổ ấm nhiều hơn. Gia đình này có vẻ hạnh phúc, hồi đó sống ở hải ngoại, lấy người cùng xứ thường xuất phát từ các cuộc tình sinh viên, lại đến với nhau trong tình đồng cảm của người xa xứ nên ít thấy có chuyện chia tay sớm như các bạn thanh niên thời bây giờ.
     Tôi theo bố cháu Trâm từ giảng đường về nhà, ngạc nhiên khi con bé bốn tuổi ra chào, cháu chào chú ạ. Con bé dễ thương lại càng dễ thương khi chào hỏi theo kiểu Việt nam. Tôi xoa đầu cháu và tặng cháu một con búp bê mặc áo dài made in Vietnam.  Ba người lớn cùng ngồi noí chuyện, tôi trao cho chị món quà của gia đình gởi từ Saigòn qua. Chợt bé Trâm mặt hớt hải tay cầm con búp bê, chạy vào la với giọng như muốn khóc, mẹ ơi, trái ớt nhà mình bị "té" rồi! Cả nhà đều cười, chợt như sợ phật ý đứa bé, cả ba chúng tôi ra cạnh hiên nhà nhìn cây ớt kiểng, quả thật, có một trái đã bị rụng xuống dù cuống còn tươi. Cây ớt chị mang hạt từ Pháp sang, được ươm, mọc lên trong những ngày hè để làm cây kiểng cho đỡ nhớ quê. Bé Trâm thích nó như một sinh vật thân thương và quí nó như một thứ đồ dễ vỡ, có thể do mẹ cháu bảo cháu cây ‘bông ớt’ này là từ Viêt nam, miền đất cháu nghe nhiều nhưng chưa một lần được đặt chân đến.
     Ngay từ ngày đó, trùng hợp với cao điểm của cuộc chiến Việt nam, cuộc sống ở Mỹ đã khá tất bật. Chuyện có một bữa ăn với món ăn Việt trong gia đình quả là hiếm hoi, phải đi xa và thường mua ở các tiệm Tàu.   Nhưng ngôn ngữ Việt bố mẹ cháu Trâm thấy chẳng phải đi đâu mà vẫn có thể trao đổi, sử dụng, gìn giữ ngay trong tổ ấm của mình. Trong niềm trăn trở luôn nhớ về nguồn, chị đã ra sức dạy cho bé gái tiếng Việt và hệ quả của nó tôi nghĩ là có lợi cho những thế hệ xa quê hương. Tôi mất liên lạc với anh chị mấy năm sau đó phần vì bị cuốn hút bởi cuộc chiến, phần vì số phận đổi đời sau 75.

     Bốn mươi năm sau, tại một ngôi nhà vùng đồi thoải Riverside, nam California, gia đình tôi với ba thế hệ sống chung một nhà, hai vợ chồng tôi, hai vợ chồng đứa con gái lớn, và một cháu ngoại, khác với bé Trâm, cháu là bé trai. Thằng bé chưa đến trường, phần dạy dỗ tiếng Anh cũng như tiếng Việt, bố mẹ cháu giao cho chúng tôi. Riêng đồ ăn Việt và chăm sóc cháu thì giao thêm cho bà nó. Cháu bà nội tội bà ngoaị ở đâu cũng vậy, nhưng bù lại là niềm vui vô giá cho lứa tuổi lúc về chiều.
Gần như đến hẹn lại lên, cứ vào cuối thu, gió Santa Ana thổi từ sa mạc Mojave ra biển lại đi qua vùng tôi ở, một loại gió khô, nóng.với tiếng hú làm khó chịu về đêm nếu ai muốn mua nhà đắt tiền trên đồi cao. Cây cối, cây kiểng cũng có phần ảnh hưởng bởi loại gió này, tất nhiên sân vườn nhà ai dù rộng, dù hẹp, dù design theo kiểu gì thì gió mưa cũng chẳng trừ ai.
     Tôi đang ngồi ăn sáng với bà nó, bố mẹ cháu thì đã đi làm từ lúc trước hừng đông. Thằng nhỏ ngoài sân chạy vào bằng một giọng tuy không nhiều cảm xúc nhưng cũng không kém phần hối hả, bà ơi, mấy trái ớt của ông ngoaị "té" rồi! Tôi không quan tâm lắm vì mấy trái ớt rụng do trận gió đêm qua, nhưng lại liên tưởng đến cây ớt kiểng của gia đình bé Trâm bốn mươi năm về trước, người già thì hay hồi tưởng tôi cũng có tật này. Khi liên hệ về phần ngôn ngữ, sao không hẹn mà gặp, hai thế hệ cùng sanh tại Mỹ vẫn dùng chữ "té" thay vì "rụng" hoặc rớt xuống. Tôi tức cười hỏi cháu, sao nó có bị đau không, con hỏi nó chưa? Thằng bé biết tôi chọc quê vì ớt đâu phải một sinh vật, nhưng cũng ra nhặt và đưa cho tôi mấy trái ớt màu đỏ còn tươi vì nó biết tôi thích ăn ớt và ớt tôi trồng để ăn chứ không phải làm kiểng như nhà bé Trâm.
     Được dịp, nhân lúc thằng bé chạy ra ngoài, bà ngoaị nó trách tôi, ông dậy tiếng Việt gì mà rớt lại la là té. Tôi chưa phản ứng vội vì dòng hồi tưởng về gia đình bé Trâm còn đang gợi nhớ trong tôi, nhưng sau đó cũng phải kịp thời sửa cho thằng nhỏ cách dùng từ thế nào cho đúng và đừng làm mất mặt ông (ý nói với bà ngoaị của nó). Thật sự khi học một ngôn ngữ, phải nói sai, viết sai, rồi sửa sai mới là phương cách để nhớ và tiến bộ.
     Chuyện đến đây coi như xong. Nhưng vì ngày rộng tháng dài, lại tuổi nghỉ hưu, nên từ chuyện trái ớt xin tản mạn sang chuyện cái tiếng Việt mình và thế hệ cháu tôi. Tôi cũng như các bậc phụ huynh người Việt xa quê hương vẫn có niềm trăn trở về tiếng Việt đối với các thế hệ thứ hai, thứ ba trên đất nước này. Quả thật ‘không sợ các em không nói giỏi tiếng Anh mà e các cháu chóng quên tiếng Việt’. Suy nghĩ này đã trở thành một lời nhắc nhớ được viết dán trên tường của các phòng sinh hoạt trong nhà chùa, nhà thờ, trung tâm cộng đồng người Việt khắp các bang.
     Do hai ngôn ngữ Việt Mỹ có sự khác biệt về ngữ pháp, cấu trúc; cho nên họ tên cũng đổi ngược, ngày tháng đảo lộn, chào thì phải phân biệt sáng trưa chiều tối, xưng hô thằng ấy ông ấy cũng him, bà kia con nọ cũng her, đại loại làm cho các cháu thuộc lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo dễ bối rối khi phải tiếp thu hai ngôn ngữ song song cùng một lúc.
     Chưa kể cách đặt câu, tật nói ngược, dùng chữ tức cười kiểu như, ‘ông ra banh chơi với con đi’, ‘mời ông xuống cơm ăn’, hoặc bà bảo nó lên hỏi, ‘ông ăn chưa’, thằng cháu chạy xuống cũng lại nói, ‘ông ăn chưa’ (lẽ ra là ông chưa ăn). Bà lại bảo nó lên hỏi lại, ‘ông ăn chưa hay chưa ăn’ (vì lúc này bà đã sửa soạn xong món ăn). Thằng nhỏ đâm bối rối, lạc hướng nên ông phải xuống trả lời cho rõ, ‘ông chưa ăn nhưng chưa muốn ăn.’
     Ôi, Tiếng Việt, tiếng nước tôi quả là lắt léo vì nó quá phong phú, đa dạng. Rồi cái kiểu hay nói lái (lính chê thành Chế Linh, ca sĩ này được miễn quân dịch) nó làm cho con cháu mình có tật hay nói ngược chứ không hẳn cứ đổ lỗi cho Mỹ. Chưa kể 5 cái dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã làm đau đầu lũ nhỏ lúc phát âm, trong khi các nhà ngữ học quốc tế lại nức nở khen tiếng Việt nhờ có âm sắc như vậy nên khi nói mà cứ như là…hát (đặc biệt là các bà các cô dưới 50).

     Nay nhìn lại tôi mới thấy thế hệ cháu tôi, các béViệt hải ngoại nói chung may mắn hơn nhiều so với thế hệ bé Trâm. Cộng đồng Việt nam ngày nay vừa đông, vừa mạnh, lại có nhiều người giỏi, nhiều người giàu. Tuy cấu trúc cư dân, thành phần xã hội, có sự khác biệt diện này diện nọ, nhưng dù quá khứ, xuất thân thế nào thì ai đến Mỹ cũng có cơ hội, có chí thì nên, có gan thì giàu, không nhất thiết phải là con ông cháu cha, phải giàu ba họ, hoặc phải chịu cảnh khó ba đời, con sãi nhà chùa lại quét lá đa như ở quê nhà.
     Thiếu gì gương thành đạt ở Mỹ, báo đăng, sách viết cứ như chuyện thần tiên. Một anh chăn trâu ở Bình Giả đã trở thành một Vice President (người Á châu đầu tiên) của tổ chức văn hóa xã hội đa quốc gia National Geographic, một con ông thợ đóng giày ở chung cư Ấn quang nay đã thành một bác sĩ thành Cam. Chẳng đâu xa, ngay thành phố tôi ở, một thằng bé lai bán bánh cam ở Bình định nay đang là chủ nhân của hai cơ sở thương mại, vợ chồng mới mua căn nhà lớn như tòa thị sảnh mà chẳng cần gặp Loan Officer. Dĩ nhiên có nhiều gương thành đạt không sao kể xiết đến nôĩ chuyện ‘Viết Về Nước Mỹ’ trên Việt Báo thuật lai, tả laị cả mười mấy năm vẫn chưa hết chuyện!
     Một khi cộng đồng lớn mạnh như vậy thì theo tỉ lệ thuận ngôn ngữ, văn hóa phải phát triển theo. Dân ta lại có truyền thống vốn trọng Về Nguồn, nên muốn con cháu mình nhớ nguồn thì mặc nhiên phải trân trọng, vun bồi, gìn giữ tiếng Việt để các thế hệ tiếp nối dù xa Tổ quốc vẫn nói được tiếng Việt, viết được tiếng mẹ đẻ của mình.
     Nhớ lại thời bé Trâm, ở hải ngoại ta đâu có Viện Việt học, Hội Khuyến học, trung tâm văn hóa Hồng Bàng, các trường, các trung tâm dạy kèm tiếng Việt, các báo Việt xuất bản hàng ngày, các đài phát thanh, phát hình hàng giờ, các cơ sở in ấn song ngữ, tranh vẽ đủ màu, đủ cỡ, sách truyện đa dạng, đủ loại dành cho thiếu nhi.
     Hồi đó làm gì có các cuộc hội thảo, tham luận, tham vấn trao đổi kinh nghiệm tại các đại học Mỹ UCLA, Georgetown về tiếng Việt, về phương pháp dạy tiếng Việt, về huấn luyện và tu nghiệp sư phạm cho thầy cô như ở Fullerton mới đây. Ngày đó The Catholic University of America và Hawaìi đâu đã nghĩ đến việc bảo trợ in ấn sách báo cho thiếu nhi Việt. Cũng chưa có nhiều học giả, giáo sư, các thầy cô vừa dạy, vừa soạn sách, vừa in sách phổ biến sâu rộng trong cộng đồng. Nói đến quảng bá, khích lệ thì hồi ấy các giải thưởng khuyến khích học tiếng Việt cũng chỉ tổ chức năm thì mười họa, chưa kể thân chủ, cơ sở bảo trợ còn đếm trên đầu ngón tay, nay thì các trung tâm lo luyện cho gà của mình đi dự các giải thi viết tiếng Việt hàng năm tổ chức trên nhiều vùng có dân Việt định cư.
     Một khi tình hình đã đổi khác, vấn đề là làm sao gây được phong trào làm cho con em mình nó ‘thích’, thích học, thích đọc, thích viết, thích nói, thích nghe tiếng Việt, kể cả thích vẽ tranh Vìệt, thích làm thơ Việt, thích hát tiếng Việt. Theo tôi nghĩ một trong các phương cách là nên có các giải thưởng, các buổi lễ trao giải, các cuộc họp mặt, triển lãm tác phẩm, các bài viết, tranh vẽ của nó (kiểu Việt Báo Gallery), cùng kết hợp với các hình thức múa hát, thể thao, võ thuật, hướng đạo, tầm lộ đoàn, thi giáo lý, thi đố vui, thi đánh vần lồng trong các lễ hội tôn giáo, lễ hội cổ truyền (Tết, Trung thu, Hội Vua Hùng, Hai Bà Trưng...), trong các kỳ hè,  để chúng có thể show off khả năng nói và viết tiếng Việt của mình.
     Song song với việc khích lệ trong quá trình dạy và học, một hình thức nữa để thúc đẩy các em là lâu lâu sắp xếp cho chúng có dip về thăm quê hương.
Thời bé Trâm quê hương chiến tranh các em đâu có dip về. Thời thập niên 80, người ta trong nước đang lo "đi", chả ai nghĩ đến chuyện "về", chưa kể nhà nước lúc đó chưa nhìn nhận và o bế Việt kiều như là "một bộ phận không thể thiếu trong tiến trình đoàn kết của cộng đồng Việt nam”. Chỉ mới hơn mười năm trở lại đây, phong trào về thăm quê mới nở rộ. Động cơ thúc đẩy cũng có nhiều lý do nhưng chẳng qua cũng chỉ vì nhớ quê hương, thăm người thân, dẫn đám cháu về cho chúng nó biết đất nước cội nguồn, còn việc trao đổi làm ăn, thăm dò chính trị, trao đổi văn hóa thì không nói, không bàn ở đây.
     Nhớ lại chuyến về thăm quê vào một dip Tết đã giúp thằng cháu tôi khi sang lại Mỹ viết bài Luận văn tả lại chuyến đi, nhất là bài tả Tết cổ truyền đã được cô giáo khen nức nở, rồi cùng với mấy bài văn sau đó giúp nó lãnh được phần thưởng Writing, một phần thưởng ít khi có đầu đen lên lãnh. (chỉ tiếc chưa có khả năng viết bằng tiếng Việt, nó còn phải học bé Vincent Bảo Phương, giải Á khoa Bé viết văn Việt cũng cùng đề tài)
Cũng sau một tháng ăn Tết được giao lưu với đám trẻ cùng lứa, đi thăm các tụ điểm giải trí thiếu nhi, ăn uống đồ Việt, thăm cảnh Việt... thì khả năng nói và đọc của thằng nhỏ tiến bộ trông thấy, chưa kể điều làm nó thích thú là trẻ con Việt kiều, Việt Cộng đều có cùng một ngôn ngữ trong …trò chơi điện tử, một điều không thể chối cãi là tụi nó thân nhau nhanh qua trò chơi của thời đại này.
     Cuối bài viết cũng xin trao đổi một kinh nghiệm khi chọn sách cho các cháu học, cháu xem. Trẻ con nó rất nhạy cảm, nên khi chọn sách giáo khoa phụ huynh cần có sự chú ý, xem và duyệt trước. Một giai thoại vui giữa hai ông cháu nhân đọc một đoạn thơ trong cuốn Tiếng Việt lớp 2 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo soạn và in (mẹ nó mua từ Việt nam nhân chuyến đi). Đoạn thơ của nhà thơ cộng sản Lê Anh Xuân có 8 câu, hai câu chót ca ngợi người lãnh tụ của họ,
"Điệu lục bát, khúc dân ca/Việt nam là Bác, Bác là Việt nam"
Thằng nhỏ hỏi ông Bác là ai, Ông hơi bối rối, giải thích theo sử quan thì dài dòng quá, sức nó chưa đủ để hiểu, ông bèn ngắn gọn ‘cương’ lên như sau:
“Bác là tượng trưng cho bác nông phu của đồng ruộng Việt nam, Bác là hình tượng của một người đã một nắng hai sương, dầm mưa dãi nắng, chăm lo vun bón cánh đồng, đem bát cơm về cho dân làng, dân bản. Cho nên hình ảnh Bác là hình ảnh Việt nam, hình ảnh đồng ruộng Việt nam, của đồng bằng sông Hồng, sông Cửu, của châu thổ sông Mã, sông Chu, của dẻo đất hẹp miền Trung chạy dọc biển Đông kéo dài tới miền đất Mũi."
Thằng cháu ra chiều cảm động dù chưa hiểu mấy địa danh này nằm ở đâu, nhưng nhìn nét mặt nó có vẻ ‘thương’ bác nông phu như ông nó tả.
Mấy hôm sau, ông nó thay sách khác, cuốn cũ dùng làm tài liệu tham khảo, vì ông nó không muốn giải thích cho cháu mình một cách tùy tiện, chủ quan đành rằng lớn lên nó sẽ hiểu.
     Tản mạn lâu quá rồi, e đi quá xa. Xin dừng ở đây, mong sao các em các cháu cố viết và nói được Tiếng Việt mình. Mong các vị đồng hương, phụ huynh, các nhà bảo trợ, các nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà in góp tay góp ý cho nỗ lực này để cùng các cơ sở truyền thông, các tổ chức tôn giáo, văn hóa, giáo dục, các trung tâm cộng đồng...đẩy mạnh phong trào ‘học và viết tiếng Việt’ lên bước cao hơn, cho con cháu chúng ta dù sống trên quê hương thứ hai, nhưng "cội nguồn vẫn giữ, giống nòi chẳng quên."

ĐỖ XUÂN TÊ
viết tặng Thầy Cô và các cháu trường Việt ngữ HT/cđpl El Monte





Nắng Cuối Ngày

11:54 AM |
Xin giới thiệu tập ảnh "Nắng Cuối Ngày" do nhóm ảnh Sacramento thực hiện.