KHÁCH SẠN 22

12:32 AM |
Khôi An, giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013, từng là một thuyền nhân. Từ tuổi học trò, cô cùng người em gái phải rời bố mẹ, vượt biển năm 1983. Mười năm sau, 1993, cô đã là một kỹ sư đại diện Intel đi “bàn giao kỹ thuật” cho các kỹ sư bản xứ tại phân xưởng Intel ở Penang, Mã Lai.    Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, Khôi An hiện là tác giả có lượng người đọc lớn nhất trên Việt Báo Online. 
Truyện này được viết từ những xúc động khi đọc hai bản tin của ký giả Mark Emmons đăng trên báo San Jose Mercury News vào cuối tháng Mười và đầu tháng Mười Một, 2013. Người viết trân trọng cám ơn ông Mark Emmons và San Jose Mercury News. Hình từ trang Web của San Jose Mercury News: Những người không nhà đang lên “Khách Sạn 22.”

Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.

Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.

Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…

Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai ba con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai ba con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về? “. Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.

Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai ba con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa lơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.

Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.

Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.

Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai ba con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.

Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.

Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.
*

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Ba con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.

Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.

Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.

Sau đó Ba con nó dọn về ở chung với cô Cindy và chú Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Chú Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì chú Ben mất việc làm. Ngày chú tìm được việc làm ở xa, hai cô chú và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.

Từ đó, hai cha con dọn một qua căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.

Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:

- Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.

Ba nó nài nỉ:

- Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!

Cô ta vẫn lắc đầu:

- Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?

Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.

Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…

Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:

- Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.

Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.

Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.

Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.

Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.
*

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.

Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.

Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.

Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.

Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:

- Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.

Thoát khỏi nổi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”

Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.

Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói Hello chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.
*

Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói, trên cái lò cháy đỏ, trong một căn bếp. Nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…

…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.

Bỗng tim nó thót lại!

Nó vừa nhìn thấy bà-mẹ-của-thằng-bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…

- Lisa, con ăn đi!

Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?

Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:

- Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.

- Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.

Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.

Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.

Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:

- Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.

Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.

Bà Nancy phác một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:

- Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng….
*

Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.

Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.

Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như người ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.

Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.

Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.

Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Khôi An

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

11:04 PM |
Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày.”
Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ - Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.
Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân….

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người - Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.

Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ - Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.
Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào. Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.

HIỆN TẠI CỦA BẠN ĐANG LÀ MỘT NIỀM MƠ ƯỚC CỦA NHIỀU NGƯỜI, XIN HÃY TRÂN TRỌNG VÀ SỐNG TRỌN VẸN NGAY THỰC TẠI, BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller









Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

11:04 PM |
Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày.”
Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ - Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.
Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân….

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người - Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.

Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ - Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.
Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào. Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.

HIỆN TẠI CỦA BẠN ĐANG LÀ MỘT NIỀM MƠ ƯỚC CỦA NHIỀU NGƯỜI, XIN HÃY TRÂN TRỌNG VÀ SỐNG TRỌN VẸN NGAY THỰC TẠI, BÂY GIỜ VÀ Ở ĐÂY

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller









Xuân về nhớ một bài hát

11:04 PM |
Đỗ Xuân Tê

Trong công trình sáng tác đồ sộ hơn 50 năm của một nhạc sĩ hải ngoại, gồm trên 200 ca khúc, phải nói Nhật Ngân là người hay viết những bài ca về mùa xuân mà nội dung thế nào cũng nói đến cái Tết cổ truyền của dân tộc Việt, một tập tục gợi nhớ những ngày xuân khi đất trời giao hòa nhà nhà xum họp mừng vui cho cuộc sống bước vào năm mới.
Một trong những bài hát được quần chúng hâm mộ nhất là bài Xuân này con không về và thực sự bài này đã đi vào huyền thoại. Ca khúc một thời không chỉ được hát để thể hiện tâm tư của những anh lính xa nhà vì hoàn cảnh chiến tranh không thể về thăm mẹ thăm em vui xuân với bà con chòm xóm như những tháng năm thanh bình thuở trước, mà bài hát còn theo chân những người con tha hương sau chiến tranh dắt díu nhau ra hải ngoại để rồi mỗi khi tết đến xuân về lại nức nở sụt xùi  nhớ mẹ nhớ em trong  phút giao thừa khói hương lan tỏa.
Bài hát đã để lại dấu ấn khá đậm đà trong lòng những người xa xứ khi thế hệ thứ hai ở hải ngoại vẫn còn biết nghe hoặc biết hát trong các dịp họp mặt  mừng Xuân tìm về tình tự dân tộc của những người con mang dòng máu Việt. Chẳng thế mà nơi vùng tôi ở, một hội thánh CĐPL  tuy nhỏ nhưng mỗi năm khi tổ chức văn nghệ Tết cho tín hữu và bà con cộng đồng người Việt tại đia phương, thiếu gì thì thiếu nhưng không thể thiếu bài ca huyền thoại này.
Lại càng vui khi tại quê nhà bài hát tuy không cho phép chính thức nhưng vẫn được quần chúng thính giả sau chiến tranh công khai xử dụng và cùng nhau chia sẻ mỗi khi đất trời vào xuân. Nói cho ngay, bài hát mang sắc thái phi chính trị như nói hộ nhiều điều thể hiện niềm thương nỗi nhớ cho bất cứ thân phận nào do hoàn cảnh vì cuộc sống vì sinh kế phải xa quê xa gia đình, cuối năm không thể về thăm cha thăm mẹ để sưởi ấm lại tình thương, để cùng nhau nhâm nhi chút mứt gừng, ăn chút bánh tét bánh chưng trong ba ngày tết, có gần thì cũng kẻ trong nam người ngoài bắc, người thành thị kẻ dưới quê, còn xa thì tận mãi đông Âu, xứ Nga, xứ Hàn, Đài loan, Campuchia, Lào, Thái…, chưa kể dòng người gốc Việt xuất dương di tản sau chiến tranh đang sinh sống khắp năm châu bốn bể.
Là người làm công tác văn nghệ  cùng ngành với Nhật Ngân khi anh bị động viên vào quân ngũ, tôi chưa thấy bài hát nào được thính giả yêu cầu hát nhiều lần trong mỗi dịp xuân về trên làn sóng phát thanh truyền hình miền nam,  trên các sân khấu ca nhạc lớn nhỏ, trong các chuyến lưu diễn nơi tiền đồn, xã ấp, rồi các đơn vị đóng quân nơi rừng sâu núi thẳm, hải đảo xa xôi, các tụ điểm bến xe bến phà nhà ga sân bay bến cảng, nói chung từ tiền tuyến đến hậu phương, từ làng quê lên phố thị đâu đâu cũng nghe văng vẳng tiếng hát của các nghệ sĩ nổi tiếng một thời trong đó phải kể ca sĩ Duy Khánh, người thể hiện thành công nhất bài hát này, đặc biệt vào những chiều cuối năm lan tỏa sang những ngày đầu xuân. Có điều trớ trêu là xuân về thì chỉ mong xum vầy đoàn tụ, vợ trẻ mong chồng, mẹ già mong con, con thơ ngóng bố, em gái hậu phương trông anh trai tiền tuyến, người yêu quê nhà chờ bạn tình xa…ai lại đi hát đi nghe những ca khúc nội dung chia phôi lỗi hẹn vào những giây phút đã không vui mà nuớc mắt lại trào?
Nhưng rồi ra ai cũng hiểu khi đất nuớc còn chiến tranh quê hương còn khói lửa thì mấy ai, mấy gia đình hưởng trọn được niềm vui?  Cho nên Nhật Ngân như hiểu được tâm trạng này nên anh đã viết lên ca khúc mà âm điệu thì lắng sâu ray rứt, ca từ thì mộc mạc chân quê, ai hát cũng được ai nghe cũng mủi lòng. Tôi nhớ một lần đi lưu diễn bên Lào và Thái lan đầu thập niên ’70,  hồi ấy chưa có chuyện di tản vượt biên hay lao động xuất khẩu, mà khán giả chỉ là những bà con mình tha phương cầu thực trên đất khách, nhiều người đã khóc khi nghe hai bài hát Đêm Đông và Xuân này con không về. Cho đến nay dù bốn mươi năm đã qua, nhưng bài hát vẫn được hát và cảm xúc thì chẳng bao giờ vơi đối với những thân phận xa quê mỗi dịp xuân về.
Nhớ lại bài hát của Nhật Ngân, ta cũng lại đồng cảm với tâm trạng của người nhạc sĩ tài hơa  không chỉ viết về mùa xuân này, một mùa xuân dành cho những nhân thân nơi cõi tạm quê nhờ, mà thực sự anh luôn mơ tới một  mùa xuân vĩnh cửu, nơi không còn ghen ghét hận thù, nơi chẳng còn sinh ly tử biệt, một  chốn bình yên một ‘thiên đường này anh mơ ước bao lâu’ như chính anh đã viết trong bài Một mai giã từ vũ khí, ngẫu nhiên trùng hợp với  ước vọng của những người có đức tin khi mơ về nơi trời mới đất mới, nơi Đức Chúa Trời sẽ ở giữa loài người, Ngài sẽ lau ráo hết  nước mắt cho chúng sinh, sẽ không có sự chết, cũng chẳng còn than khóc, đau đớn nữa (Khải Huyền 21: 4).
Qua  sự nghiệp sáng tác, nhiều người tưởng Nhật Ngân là chàng trai xứ Huế, nhưng biết anh, tôi xin được bổ sung thêm về quê quán của anh, mà cũng là tác giả bài Tôi đưa em sang sông,  anh gốc người Thanh hoá, có sống ở Huế một thời gian không lâu, nhưng gắn bó nhất với thời trai trẻ vẫn là quê hương Quảng nam-Đà nẵng, một vùng đất anh luôn ôm ấp như chính những người con xứ Quảng cũng nhiệt tình đón nhận thương mến anh, và nếu nghe lại bài ca, ‘Quảng nam quê ta ơi’ anh sáng tác riêng cho vùng đất địa linh nhân kiệt này thì mới hiểu hết tình quê xứ Quảng nơi anh.

Đỗ Xuân Tê



The Suitcase

12:05 AM |


A man died, when he realized it, he saw God coming closer with a suitcase in his hand.
- God said: Alright son its time to go.
- surprised the man responded: Now? So soon? I had a lot of plans...
- I'm sorry but its time to go.

- What do you have in that suitcase? the man asked.
- God answered: Your belongings.
- My belongings? you mean my things, my clothes, my money?
-God answered: Those things were not yours they belonged to the earth.

- Is it my memories? the man asked.
-God answered: those never belonged to you they belonged to Time

- Is it my talents?
-God answered: those were never yours they belonged to the circumstances.

- Is it my friends and family?
-God answered: I'm sorry they were never yours they belonged to the path.

- Is it my wife and son?
- God answered: They were never yours the belonged to your heart.

- Is it my body?
- God answered: that was never yours it belonged to the dust.

-Is it my soul?
God answered: No that is mine.

Full of fear, the man took the suitcase from God and opened it just to find out the suitcase was empty.
- With a tear coming down his cheek the man said: I never had anything???
-God answered: that is correct, every moment you lived were only yours. Life is just a moment. a moment that belongs to you. For this reason enjoy this time while you have it. Don't let anything that you think you own stop you from doing so.
-Live Now
-Live your life
- Don't forget to be happy, that is the only thing that matters.
- Material things and everything else that you fought for stay here.
-YOU CAN'T TAKE ANYTHING

Share this reflection with anyone you know or appreciate. Enjoy every second you live.

Chân dung một tín đồ Cơ Đốc tôi quen

8:40 PM |
Đỗ xuân Tê

Lời người viết: Nhân dịp trang web CHSCĐ có số khách viếng đạt con số 10.000 chỉ trong vòng 6 tháng, tác giả xin gởi đăng truyện ngắn này như một lời chào mừng. Truyện này cũng đã đăng trên Việt Báo (giúp tác giả nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ năm 2008 dưới bút hiệu Xuân Đỗ) với tựa đề, ‘Chân dung một người Mỹ tốt bụng’ và được gần 30.000 lượt độc giả vô đọc, nay hiệu đính dưới hình thức truyện ngắn Cơ đốc cho phù hợp với trang nhà.

Có một điều ông ân hận là chưa đặt chân lên đất Saìgon, chưa có dịp tham quan thắng cảnh Việt nam, mặc dầu biết Việt nam từ khi ông còn rất trẻ. Sống kiếp hải hồ từ khi học hết trung học, bị hụt đi tu, ông đăng ký Hải quân. Rời California, chiến hạm của ông được điều về vùng biển Thái bình dương nằm trong phạm vi hoạt động của Hạm đội 7.
Kịp lúc chiến trường Việt nam sôi động, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ vào Đà nẵng thì tàu của ông được phái đến Biển Đông, ngoài khơi thành phố Đà nẵng, chuyên lo phần tiếp liệu, kể cả yểm trợ hải pháo cho các cánh quân bạn dọc từ Hải lăng đổ vào.
Ông tự thân không thích chiến tranh, đi Hải quân cũng chỉ là có dịp đi đây đi đó, ghé lai bến nọ bờ kia, một phần muốn quên đi mối tình đầu dang dở vì mẹ cản không cho vi khác đạo, phần cũng muốn xa cái thị trấn nông trang vùng San Luis Obispo, miền Trung California, nơi mà tuổi thơ của ông đã bị khép kín trong một gia đình đông con, với nếp sống nông trại buồn tẻ, chưa kể phải chịu sự dạy dỗ có phần khuôn phép, bảo thủ của một bà mẹ có dòng đạo gốc.
Ông tên gọi thân mật là Al, hai chữ đầu của Alberto. Cậu AL có một thời thơ ấu không suôn sẻ. Cha mất sớm, mẹ một nách bảy tám đứa con, nên cậu đã bắt đầu phải lao động sớm để giúp gia đình. Cuộc sống nông trại thì đất đai canh tác chỉ hạn chế ở mức gia đình, lề lối thì cũng là sự lặp lại của một truyền thống đã có từ những thế hệ trước, lại sinh hoạt trong một xứ đạo khép kín cho nên nguồn thu nhập cũng ở mức dư dật chút đỉnh.
Cậu bé không tỏ ra ngoan đạo lắm, giúp lễ ở nhà thờ cũng chỉ để làm mẹ vui lòng. Trong tâm tư cậu lại thôi thúc bằng một ước vọng vô hình là muốn tìm một lối khác để được gần gũi với Chúa, đừng quá câu nệ về hình thức, lễ nghi. Mẹ cậu thì vẫn kỳ vọng nơi cậu, bà tin chỉ có cậu mới làm dòng họ hãnh diện khi đi vào con đường phục vụ Chúa và giúp đỡ tha nhân.
Cha mẹ sinh con Trời sinh tính, mẹ thì muốn vậy, nhưng ông lại theo đường ông, theo tiếng gọi của con tim đi yêu một thiếu nữ ngoại đạo. Vì sự ngăn cản của gia đình không lấy được người yêu lại đưa ông vượt ra ngoài vòng cương tỏa của họ tộc khi chọn một lối thờ phượng khác với lễ tục trải qua nhiều thế hệ. Mẹ ông gần như muốn từ ông, chị em sợ mẹ nên né tránh ông, cộng đồng biểu thi lạnh nhạt với ông. Không còn cách nào khác, ông chọn kiếp sống hải hồ bằng cách đi vào đời thủy thủ. Dù trên xứ Mỹ nghe ông thuật lại đời ông, tôi lại nhớ đến chuyện Xóm Đạo của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, khi thấy hai phương trời dù cách biệt, hai văn hóa mang sắc thái đông với tây, nhưng về mặt tín ngưỡng thì hình như không có biên giới, cho nên lề thói gia đình, qui luật xứ đạo của cả Mỹ lẫn Việt hội tụ y chang.
Ông không đi vào con đường tu hành, thì gia đình chẳng còn ai, chỉ có một cô gái út đã vào tu viện và trở thành sister của một dòng nữ tu mạn Bắc. Nghe nói sau này khi tuổi ngoài 40 không hiểu vì lý do gì bà bỏ cuộc sống khép kín, quay về đời thường rồi kết hôn với một cựu binh cấp bậc khá cao. Cuộc sống không lấy gì làm hạnh phúc vì ông này nghiện rượu do ám ảnh của hội chứng chiến tranh Việt Nam. Bà thất vọng định chia tay trở về tu viện, nhưng vừa lúc ông chồng qua đời nên bà ở lại căn nhà chung, sống đời ẩn dật quãng đời còn lại. Những ngày cuối đời hai anh em ông trở thành đồng cảm vì cùng sống xa quê, cùng thoát ly gia đình và bị coi như hai con chiên lạc.
Ông vẫn mải mê với đời hải hồ, nó giúp ông dừng chân nhiều nơi xa xứ lạ. Đi xa ông mới thấy nhiều người quá khổ, nhiều thân phận xấu số, nhiều cảnh đời bên bờ địa ngục, không được sung túc, no ấm như quê ông. Cuộc sống trên boong thì cũng có lúc nhàm chán, qui trình công tác thì một ngày như mọi ngày, chỉ vui khi có cuộc hải trình xa, dừng chân nơi bến lạ, giao lưu với những con người mới, văn hóa mới. Cũng cần nói là nhiệm vụ chính của ông trên tàu là tẩm liệm các thi hài lính Mỹ hi sinh tại chiến trường trước khi giao về cho thân nhân họ, ông không biết chọn nghề gì, chẳng ngờ sau này nó là cần câu cơm khi ông xuất ngũ.
Ít năm sau nhớ bờ, ông bỏ đời thủy thủ, xuống phía nam Cali kiếm việc. Tình cờ ông được một mục sư Cơ Đốc giới thiệu cho vào làm tại một trường Đại học Y khoa, chuyên lo chăm sóc bảo trì các tử thi để sinh viên sử dụng cho môn cơ thể học. Ông đã bỏ đạo cũ, theo đạo mới, tuy cùng theo một Chúa, cùng thờ một Đấng Chí Cao. Ông đi nhà thờ đều đặn, an phận với công việc, để nhiều thời gian với người chết hơn với người sống nếu không kể số giờ phải nghỉ ngơi.
Lúc này cảm thấy lòng mình trống trải, nên qua môi trường sinh hoạt nhà thờ, ông làm quen với một đồng nghiệp trong trường. Hai người cùng độc thân, bà khoảng trên 50, ông kém bà vài tuổi, hai người nếu tính theo sức học, sở thích, tính nết và lịch sử gia đình thì nghe chừng không hạp, nhưng họ tìm đến nhau trong tình đồng đạo tuy muộn màng nhưng thành tri kỷ gắn bó với nhau gần một phần tư thế kỷ.
Bà vợ ông không phải người Cali, mà gốc vùng Midwest. Bà là con gái duy nhất trong một gia đình mục sư theo đạo Cơ Đốc Phục Lâm, suốt thời niên thiếu theo cha làm công tác truyền giáo tại Peru, một vùng đất tận miền Nam Mỹ. Bà thạo tiếng Spanish, sau khi tốt nghiệp đại học, bà làm cô giáo dạy tiếng Anh cho giáo dân địa phương. Khi ông cụ mất, bà theo mẹ về lại Mỹ, học tiếp ngành quản trị kinh doanh và nhận một công tác kế toán cho trường đại học nơi ông cùng làm việc. Có thì giờ rảnh bà học thêm lấy được cấp bằng MBA nên lương cũng khá.
Hai ông bà không có con, cũng chẳng nhận con nuôi, chỉ có một con chó (cho ông) và con mèo (cho bà) để làm vui ngoài tình tương kính yêu thương giữa hai người. Ấy vậy mà trong cuộc sống họ rất hạp nhau. Ông cũng chẳng mặc cảm vì sở học của mình kém bà, còn bà cũng chẳng ngại kiểu ăn nói có phần bá láp của ông mỗi khi đi đâu. Tức cười là khi sinh hoạt, bạn bè của bà phần nhiều là các giảng sư, giảng viên, nhưng sự có mặt của ông với lối noí chuyện kiểu thủy thủ làm các ông các bà cười ngất, nên chỗ nào có ông là vui, thiếu ông là người ta nhắc.
Có người hỏi rồi ông có quay về San Obispo không, câu trả lời là có. Quê hương là chùm khế ngọt ai mà bỏ được, nhất là đối với người Mỹ hometown luôn là niềm hãnh diện vì là nơi họ đã sanh ra và lớn lên. Với người Việt mình thì Đông Tây gặp nhau ở chỗ này. Nhưng ông trở lại bằng cách nào. Lúc mẹ ông sắp mất, bà biểu cô chị cả gọi ông về, thật sự tình mẫu tử ai bỏ được con, giận thì giận vậy thôi. Các anh em của ông, có người đã lập gia đình có con rồi có cháu vẫn sống quây quần nơi mảnh đất của cha ông từ thời mới di dân, trừ người em gái út nữ tu đi ở xa.
Ít năm sau ông nghỉ hưu, bà thì nhà trường còn cần nên vẫn tiếp tục công việc. Vốn quen lao động chân tay, lại không muốn ở không, ông mở một dịch vụ nhỏ, chuyên sửa giầy dép các lơai. cho cả nam lẫn nữ bên Redlands. Nghề tay trái này ông học của ông nội khi còn ở nông trại. Tiệm của ông khá đông khách, tuy chỉ là khách địa phương, người Mỹ họ quí mấy đôi giầy đóng theo ni tấc vừa bền vừa hạp với chân nên thích sửa, nhất là dân trên vùng Big Bear và sa mạc Mojave, có người lái cả bảy tám  chục miles đưa giầy cho ông sửa.
Coi vậy ngồi hoài cũng mệt, tay búa tay kim mãi cũng nhức vai, tuổi tác có hạn chế nhất định, ông đi vào nghỉ hưu thực sự. Chẳng cần sang nhượng, ông để luôn cái tiệm cho một phụ tá giúp việc ông từ mấy năm nay. Anh này người Việt nam gốc Campuchia, cùng sinh hoạt trong nhà thờ được ông bà coi như con nuôi.
Giã từ với nghề nghiệp giờ là lúc muốn hưởng một chút cho thân nó nhàn, ông bà quay sang du lịch. Trong nước trước, ngoài nước sau, chỉ tiêu trước mắt là đi khắp 50 tiểu bang của Mỹ, tất nhiên kể cả Cali vì còn nhiều cảnh đẹp vẫn chưa đi tới. Phương tiện thì nhất định không đi máy bay, chỉ bằng phương tiện R.V. (loại xe đi xa tiện cho ngủ nghỉ trên xe). Năm 2000 mở đầu thiên niên mới cũng là lúc hoàn thành chỉ tiêu. Bang cuối cùng là Alaska, ông phải lái xe đi ngang địa phận phía tây của Canada.
Nói về chuyện tiền bạc, ông bà không phải là người ít tiền, tiền hưu, tiền để dành, tiền lời dịch vụ, tiền tích lũy mua căn nhà mới, nhưng trong chi tiêu lại rất tiết kiệm, không quá rộng rãi như người ta tưởng. Con cái chẳng có, chẳng phải nuôi ai thêm, chẳng phải lo cho con vào đại học, ngân sách gia đình chỉ tốn nhiều cho các lần du lịch xuyên bang.
Nhưng ông bà không phải chỉ sống cho riêng mình, mà còn đóng thuế cho chánh phủ, đóng góp cho cộng đồng, lại dâng hiến cho nhà thờ, giúp công tác từ thiện, ủng hộ quĩ trường học, chưa kể hay giúp đỡ bằng hiện kim hay đồ gia dụng cho các di dân từ xa đến theo truyền thống lâu đời của người Mỹ.
Nói về giúp đỡ di dân không hiểu sao ông bà hay có cảm tình với sắc dân gốc Á châu nhất là hai chủng tộc gốc Tàu và Việt nam, theo tôi đoán có lẽ hồi trẻ ông hay ta bà vùng venThái bình dương. Trước khi gia đình tôi sang định cư tại Mỹ, thì nhà bà đã có hai chị em người Mã lai gốc Hoa được cho ở nhờ khi họ sang du học tại đây. Họ tìm cách ở lại trong hợp pháp, rồi ra ở riêng sau khi lập gia đình. Một sinh viên Đại hàn thế vào chỗ họ, nhà ông bà lúc nào cũng có người lạ còn ông bà chỉ ở một phòng.
Căn nhà đang ở là của bố bà xây cất từ đầu 60. Vì ông cụ là mục sư nên trong di chúc có ghi sẽ dâng căn nhà này cho giáo hội sau khi con gái của ông mất đi. Di chúc không nói gì đến đời cháu, kể cả người phối ngẫu. Cho nên lúc cuối đời, ông đã phải mua phòng hờ một căn nhà khác nhỏ hơn trường hợp bà chết trước. Chiếc R.V. lúc nào cũng đậu sát garage, mấy lúc sau này khó ngủ nên hay đọc sách khuya, ông sử dụng nó như phương tiện sinh hoạt riêng, vì vậy mà ông đã bị trợt té khi bước hụt lúc xuống thang để vào nhà.
                    ****
Gia đình tôi định cư tại vùng ông bà ở vào đầu thập niên 90 sau khi được chánh phủ Mỹ nhận qua một chương trình tị nạn dành cho các cựu tù cải tạo. Do học chung trườngvới hai cô gái người Mã, bạn thân của con gái tôi đã giới thiệu gia đình tôi với ông bà. Biết chúng tôi từ Việt nam sang, ông có cảm tình ngay vì những ký ức liên hệ một thời với đất nước tôi hồi chiến tranh, nhưng lại chưa một lần đặt chân lên đất. Dần dần quen thân, ông bà coi con gái tôi như hai cô gái kia, đối xử trong tình đồng đạo, thương mến như con.
Lại nghe chuyện của tôi cải tạo trên 12 năm, vợ con một thời nheo nhóc ông bà càng quí mến hơn. Qua giao tiếp, tôi thấy khi nhắc tới Việt nam, có hai từ ông phát âm rất sõi là Saigòn và... Việt cộng. Nói đến Saigòn vì các bạn ông khen con gái ở thành phố này rất đẹp so với các cảng họ từng ghé qua, còn Việt cộng thì ông khâm phục vì họ đánh giặc gìỏi, nhất là trận địa Khe Sanh gây tổn thất nặng cho TQLC Mỹ lúc tàu ông đang đậu ngoài khơi Quảng trị lo yểm trợ tiếp vận cho chiến dịch.
Ấn tượng này ông vẫn giữ nguyên cho đến khi gặp tôi thì niềm cảm phục biến thành nỗi khinh bỉ, vì với tư cách cựu binh, ông không hiểu sao họ có thể đối xử với những người ngã ngựa vừa là đồng loại một cách tàn tệ như vậy khi tàn cuộc chiến! Sau này khi tình bạn kết thân, mỗi lần ông định rủ tôi đi đâu, tôi không đi, hoặc nhờ tôi một việc công ích mà tôi quên chưa làm thì ông hay dọa vui, "tao gửi mày về cho VC bây giờ", dù dọa vui nhưng lại có ép phê mới lạ.
Phần tôi chưa có người Mỹ nào tôi cảm thấy gần gũi thoải mái trong quan hệ thân tình bằng ông AL. Ông có kiểu xử sự xuề xòa tự nhiên như người Nam bộ (dĩ nhiên trước thời thập niên 60). Tôi với ông không có khoảng cách, gặp nhau tay bắt mặt mừng, tay ôm eo ông, noí chuyện theo kiểu tầm phào ngay từ phút đầu. Có điều ông không uống ruợu, cũng chẳng uống bia, không nghiền thuốc lá, chẳng biết uống trà nên anh em cũng khó lai rai ba sợi, được cái  ông lại thích phở bò, chả giò, nem cuốn, không chê nước mắm mà ưa cả cơm chiên cá nướng theo kiểu nấu nướng của  người Việt mình.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất là có lần ông rủ tôi sang Mễ, tiện thể ông đi chích một mũi thuốc giảm đau nhức cho cái vai của ông. Sáu tháng chỉ cần chích một mũi, bác sĩ Mỹ không dám làm chuyện này nên ông phải đi Mễ. Đã giao hẹn từ đầu là tôi sẽ đóng vai một anh cận vệ (bodyguard), vì tôi giống Đại hàn, mắt một mí, tướng người có vẻ biết võ. Còn ông cứ coi như một ‘big boss’ không biết làm trong ngành gì, chỉ biết tướng ông cũng đô con, dáng cao đẹp nói làm nhỏ không ai tin. Ông nói đùa với tôi, lâu lâu cũng cho tao lên gân một chút, tụi bác sĩ Mễ không phải chỉ nể người Mỹ vì tiền mà nó còn nể hơn nếu biết mày có chức có quyền, nó chữa trị tốt hơn!
Chẳng mất mát gì lại có dịp làm bạn mình vui, nên tôi thủ vai một cách xuất sắc. Chuyến đi lẽ ra vui hơn nếu đừng có chuyện bực mình trước khi vào đất Mễ. Chả là lúc ăn sáng xong ở Indio, ông bà trả bill riêng không tính phần tôi, biết cái tật sòng phẳng của người Mỹ hồi tôi đi Mỹ tu nghiệp từ năm 66, nhưng trong lòng có phần ấm ức vì đã thân quen, sáu bẩy đô  đâu có đáng gì, làm mất tình, lại cứ nghĩ có lúc họ cho con mình cả mấy ngàn đô không tiếc, nay lại tiếc bố nó bữa ăn sáng!
Trở lại chuyện đi Mễ, khám bịnh chích thuốc xong, phái đoàn ra về. Ông vui vẻ ra mặt, vừa hết đau vừa được bác sĩ, nhân viên clinic kính nể vì ít ai mang theo cận vệ đi khám bác sĩ tại chốn này. Phần ông cũng đóng trọn vai khi nét mặt ra chiều khiêm tốn như không muốn ai biết mình làm... lớn, nhưng suýt lộ bài vì lại giới thiệu rất nhiệt tình về tôi với mọi người ông gặp.
Xe qua biên giới, ông nói nhỏ với viên thanh tra, ‘ông này người Việt nam, cận vệ của tôi.’ Chiếc cần chắn ngang tự động nâng lên, xe chuyển bánh kèm theo cái chào khá lịch sự của người kiểm soát biên giới. Lạ một điều là tôi chẳng cần xuất trình thẻ xanh.
Quay lại Indio cũng cỡ 4 giờ chiều, tôi đang chán vì tưởng sang Mễ được thăm thú cảnh quan ra sao, rút cục thành phố cửa khẩu nằm ngay biên giới, sao chép hệt Mỹ, muốn vào đất Mễ thực sự phải lái thêm 50 miles nữa. Đang ngủ gật, thì xe dừng lại trước quán Sizzler, một loại quán ăn kiểu buffet. Ông bà mời tôi xuống ăn cho vui. Kinh nghiệm hồi sáng, lại biết bà xã ở nhà chờ cơm tôi viện cớ... chưa đói. Ông nói ngay, tụi tao còn đói nữa là mày. Xuống! Lần này vợ chồng tao bao. Tôi làm bộ miễn cưỡng xuống xe. Chưa bao giờ ăn đồ Mỹ ngon như bữa nay, ăn xong mới sực nhớ mình nói với ông chưa đói.
Ngày vui qua mau, người có tình sớm từ giã nhau. Ông ra đi như chuyện tình cờ, giản dị như mơ. Nói về tuổi thọ thì cũng đủ rồi, nhưng vì mến nhau nên chưa muốn ông đi.
Đêm hôm trước ông bị té khi xuống cầu thang của chiếc R.V. Bác sĩ cho biết ông phải giải phẫu thay xương hông. Trước hôm mổ, tôi và bầu đoàn thê tử vào thăm ông, mang theo cả thằng cháu ngoại mà ông rất thích vì nó cũng gọi ông là grandpa. Chuyện trò vui vẻ, chúc ông ca mổ bình an. Thằng cháu hôn ông chúc "Goodnight, Grandpa Al". Ông xúc động ra mặt, tôi biết đêm đó ông ngủ ngon.
Chuyện đời khó đoán, chẳng ai biết chuyện ngày mai, dù chỉ là ngày hôm sau. Ca mổ dự trù 11 giò trưa, định tối vào lại xem sao, thì khoảng 5 giờ chiều được tin ông mất. Chính bà cũng không ngờ, tưởng chuyện mổ xương hông đâu có gì phức tạp, bà lại còn đi ăn trưa rồi mới vô thăm ông. Nên chẳng ai được gặp ông, bà thì như ân hận, chúng tôi phải an ủi mãi không thôi. Về sau được biết ca mổ xấu đi do biến chứng của bệnh suyễn ông nhiễm từ hồi còn trẻ, nhưng thôi cũng là số cả.
Như di chúc để lại, chuyện này ông cũng đã nói cho nhiều người nghe, thân xác ông đồng ý hìến cho trường đại học nơi ông làm việc, gắn bó trong cương vị bé nhỏ của mình mấy chục năm qua. Gia đình ông tôn trọng ước nguyện của ông.
Trong buổi lễ tưởng niệm tại một thánh đường lớn vùng Inland Empire, ông được bạn bè, kể cả số người thân trên San Obispo kéo xuống, dành cho những cảm xúc tiếc thương rất chân tình. Tấm hình được phóng lớn mặc đồ thủy thủ lúc còn trẻ được đặt ở trung tâm. Bà biết ông thích tấm hình này, thường được đặt trên chiếc piano nơi phòng khách. Phần phát biểu, tang quyến dành hết cho bạn bè thân quen.
Ba người đại diện nhóm thọ ơn, một anh con nuôi gốc Campuchia, một cô gái Mã lai gốc Hoa, và tôi đại diện cho một gia đình H.O., vận dụng hết khả năng Anh ngữ của mình để biểu lộ lòng biết ơn chân thành qua lối xưng hô thân mật vừa Daddy, Uncle, vừa Brother tùy vai vế. Người Mỹ có tập quán những buổi lễ như thế này, tuy buồn nhưng nên gợi lại những kỷ niệm dí dỏm, vui vui khi nhớ người đã khuất, nhưng tôi mắt đẫm lệ, giọng nghẹn ngào đã không làm vừa ý người thủy thủ một thời vui kiếp hải hồ trên Biển Đông giáp bờ quê hương tôi. Sau buổi lễ, mấy chị em ruột của ông đến gặp tôi bày tỏ những cảm tình coi nhau như tình huynh đệ, họ cảm nhận đươc mức độ tôi quí mến ông. Tôi cũng gặp riêng bà nữ tu, em gái út của ông để trao đổi những gì ông tâm sự với tôi về bà, bà tỏ vẻ xúc động. Nét mặt bà còn phảng phất nét đẹp của một thời son trẻ nhưng vẻ sầu muộn hiện rõ trên đôi mắt.
Nhớ lúc sinh thời, ý nguyện của ông là sau khi đi hết 50 tiểu bang, ông bà sẽ làm một cuộc du lịch qua hai xứ, một chuyến qua Việt nam, một chuyến về Peru, nơi mà mỗi người có những kỷ niệm khó quên thuở thiếu thời. Ông sẽ đi với tôi qua Việt nam, ông sẽ đi với bà qua Peru. Cả hai cuộc đi đều không thực hiên được. Tôi có một phần lỗi vì trước đó ít năm (khoảng 98,99) ông có gợi ý chúng tôi cùng đi, nhưng tôi e ngại vì một anh cựu tù cải tạo dẫn một ông Mỹ cựu binh lang thang chỉ trỏ trên cảng Saigòn chắc không tránh khỏi con mắt tò mò của đám công an. Bây giờ là lúc thuận lợi cho chuyến đi thì ông lại bỏ đi sang bến khác.
Có điều an ủi là mọi người biết ông ra đi trong thanh thản và tin chắc rằng ông đã ghé bến bình an. Chúng tôi nhớ ông như một người bạn lúc sống thì chan hòa đằm thắm, thích giúp tha nhân, khi chết thì thân xác hiến cho khoa học, tiền cũng đem dâng, nhà đem hiến. Ra đời trần truồng, ra đi tay trắng, không mộ phần, không kỷ niệm chương, chẳng để lại dấu vết gì của một kiếp người trên đất.
Ông có để lại, thực sự ông có để lại cái tình, một chữ tình viết hoa, một di sản của những con người tốt bụng, mà những người còn sống, trong đó có gia đình tôi, không thể nào quên.

Đỗ Xuân Tê
(Mùa Thanksgiving 2012)


Chân dung một tín đồ Cơ Đốc tôi quen

8:40 PM |
Đỗ xuân Tê

Lời người viết: Nhân dịp trang web CHSCĐ có số khách viếng đạt con số 10.000 chỉ trong vòng 6 tháng, tác giả xin gởi đăng truyện ngắn này như một lời chào mừng. Truyện này cũng đã đăng trên Việt Báo (giúp tác giả nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ năm 2008 dưới bút hiệu Xuân Đỗ) với tựa đề, ‘Chân dung một người Mỹ tốt bụng’ và được gần 30.000 lượt độc giả vô đọc, nay hiệu đính dưới hình thức truyện ngắn Cơ đốc cho phù hợp với trang nhà.

Có một điều ông ân hận là chưa đặt chân lên đất Saìgon, chưa có dịp tham quan thắng cảnh Việt nam, mặc dầu biết Việt nam từ khi ông còn rất trẻ. Sống kiếp hải hồ từ khi học hết trung học, bị hụt đi tu, ông đăng ký Hải quân. Rời California, chiến hạm của ông được điều về vùng biển Thái bình dương nằm trong phạm vi hoạt động của Hạm đội 7.
Kịp lúc chiến trường Việt nam sôi động, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ vào Đà nẵng thì tàu của ông được phái đến Biển Đông, ngoài khơi thành phố Đà nẵng, chuyên lo phần tiếp liệu, kể cả yểm trợ hải pháo cho các cánh quân bạn dọc từ Hải lăng đổ vào.
Ông tự thân không thích chiến tranh, đi Hải quân cũng chỉ là có dịp đi đây đi đó, ghé lai bến nọ bờ kia, một phần muốn quên đi mối tình đầu dang dở vì mẹ cản không cho vi khác đạo, phần cũng muốn xa cái thị trấn nông trang vùng San Luis Obispo, miền Trung California, nơi mà tuổi thơ của ông đã bị khép kín trong một gia đình đông con, với nếp sống nông trại buồn tẻ, chưa kể phải chịu sự dạy dỗ có phần khuôn phép, bảo thủ của một bà mẹ có dòng đạo gốc.
Ông tên gọi thân mật là Al, hai chữ đầu của Alberto. Cậu AL có một thời thơ ấu không suôn sẻ. Cha mất sớm, mẹ một nách bảy tám đứa con, nên cậu đã bắt đầu phải lao động sớm để giúp gia đình. Cuộc sống nông trại thì đất đai canh tác chỉ hạn chế ở mức gia đình, lề lối thì cũng là sự lặp lại của một truyền thống đã có từ những thế hệ trước, lại sinh hoạt trong một xứ đạo khép kín cho nên nguồn thu nhập cũng ở mức dư dật chút đỉnh.
Cậu bé không tỏ ra ngoan đạo lắm, giúp lễ ở nhà thờ cũng chỉ để làm mẹ vui lòng. Trong tâm tư cậu lại thôi thúc bằng một ước vọng vô hình là muốn tìm một lối khác để được gần gũi với Chúa, đừng quá câu nệ về hình thức, lễ nghi. Mẹ cậu thì vẫn kỳ vọng nơi cậu, bà tin chỉ có cậu mới làm dòng họ hãnh diện khi đi vào con đường phục vụ Chúa và giúp đỡ tha nhân.
Cha mẹ sinh con Trời sinh tính, mẹ thì muốn vậy, nhưng ông lại theo đường ông, theo tiếng gọi của con tim đi yêu một thiếu nữ ngoại đạo. Vì sự ngăn cản của gia đình không lấy được người yêu lại đưa ông vượt ra ngoài vòng cương tỏa của họ tộc khi chọn một lối thờ phượng khác với lễ tục trải qua nhiều thế hệ. Mẹ ông gần như muốn từ ông, chị em sợ mẹ nên né tránh ông, cộng đồng biểu thi lạnh nhạt với ông. Không còn cách nào khác, ông chọn kiếp sống hải hồ bằng cách đi vào đời thủy thủ. Dù trên xứ Mỹ nghe ông thuật lại đời ông, tôi lại nhớ đến chuyện Xóm Đạo của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, khi thấy hai phương trời dù cách biệt, hai văn hóa mang sắc thái đông với tây, nhưng về mặt tín ngưỡng thì hình như không có biên giới, cho nên lề thói gia đình, qui luật xứ đạo của cả Mỹ lẫn Việt hội tụ y chang.
Ông không đi vào con đường tu hành, thì gia đình chẳng còn ai, chỉ có một cô gái út đã vào tu viện và trở thành sister của một dòng nữ tu mạn Bắc. Nghe nói sau này khi tuổi ngoài 40 không hiểu vì lý do gì bà bỏ cuộc sống khép kín, quay về đời thường rồi kết hôn với một cựu binh cấp bậc khá cao. Cuộc sống không lấy gì làm hạnh phúc vì ông này nghiện rượu do ám ảnh của hội chứng chiến tranh Việt Nam. Bà thất vọng định chia tay trở về tu viện, nhưng vừa lúc ông chồng qua đời nên bà ở lại căn nhà chung, sống đời ẩn dật quãng đời còn lại. Những ngày cuối đời hai anh em ông trở thành đồng cảm vì cùng sống xa quê, cùng thoát ly gia đình và bị coi như hai con chiên lạc.
Ông vẫn mải mê với đời hải hồ, nó giúp ông dừng chân nhiều nơi xa xứ lạ. Đi xa ông mới thấy nhiều người quá khổ, nhiều thân phận xấu số, nhiều cảnh đời bên bờ địa ngục, không được sung túc, no ấm như quê ông. Cuộc sống trên boong thì cũng có lúc nhàm chán, qui trình công tác thì một ngày như mọi ngày, chỉ vui khi có cuộc hải trình xa, dừng chân nơi bến lạ, giao lưu với những con người mới, văn hóa mới. Cũng cần nói là nhiệm vụ chính của ông trên tàu là tẩm liệm các thi hài lính Mỹ hi sinh tại chiến trường trước khi giao về cho thân nhân họ, ông không biết chọn nghề gì, chẳng ngờ sau này nó là cần câu cơm khi ông xuất ngũ.
Ít năm sau nhớ bờ, ông bỏ đời thủy thủ, xuống phía nam Cali kiếm việc. Tình cờ ông được một mục sư Cơ Đốc giới thiệu cho vào làm tại một trường Đại học Y khoa, chuyên lo chăm sóc bảo trì các tử thi để sinh viên sử dụng cho môn cơ thể học. Ông đã bỏ đạo cũ, theo đạo mới, tuy cùng theo một Chúa, cùng thờ một Đấng Chí Cao. Ông đi nhà thờ đều đặn, an phận với công việc, để nhiều thời gian với người chết hơn với người sống nếu không kể số giờ phải nghỉ ngơi.
Lúc này cảm thấy lòng mình trống trải, nên qua môi trường sinh hoạt nhà thờ, ông làm quen với một đồng nghiệp trong trường. Hai người cùng độc thân, bà khoảng trên 50, ông kém bà vài tuổi, hai người nếu tính theo sức học, sở thích, tính nết và lịch sử gia đình thì nghe chừng không hạp, nhưng họ tìm đến nhau trong tình đồng đạo tuy muộn màng nhưng thành tri kỷ gắn bó với nhau gần một phần tư thế kỷ.
Bà vợ ông không phải người Cali, mà gốc vùng Midwest. Bà là con gái duy nhất trong một gia đình mục sư theo đạo Cơ Đốc Phục Lâm, suốt thời niên thiếu theo cha làm công tác truyền giáo tại Peru, một vùng đất tận miền Nam Mỹ. Bà thạo tiếng Spanish, sau khi tốt nghiệp đại học, bà làm cô giáo dạy tiếng Anh cho giáo dân địa phương. Khi ông cụ mất, bà theo mẹ về lại Mỹ, học tiếp ngành quản trị kinh doanh và nhận một công tác kế toán cho trường đại học nơi ông cùng làm việc. Có thì giờ rảnh bà học thêm lấy được cấp bằng MBA nên lương cũng khá.
Hai ông bà không có con, cũng chẳng nhận con nuôi, chỉ có một con chó (cho ông) và con mèo (cho bà) để làm vui ngoài tình tương kính yêu thương giữa hai người. Ấy vậy mà trong cuộc sống họ rất hạp nhau. Ông cũng chẳng mặc cảm vì sở học của mình kém bà, còn bà cũng chẳng ngại kiểu ăn nói có phần bá láp của ông mỗi khi đi đâu. Tức cười là khi sinh hoạt, bạn bè của bà phần nhiều là các giảng sư, giảng viên, nhưng sự có mặt của ông với lối noí chuyện kiểu thủy thủ làm các ông các bà cười ngất, nên chỗ nào có ông là vui, thiếu ông là người ta nhắc.
Có người hỏi rồi ông có quay về San Obispo không, câu trả lời là có. Quê hương là chùm khế ngọt ai mà bỏ được, nhất là đối với người Mỹ hometown luôn là niềm hãnh diện vì là nơi họ đã sanh ra và lớn lên. Với người Việt mình thì Đông Tây gặp nhau ở chỗ này. Nhưng ông trở lại bằng cách nào. Lúc mẹ ông sắp mất, bà biểu cô chị cả gọi ông về, thật sự tình mẫu tử ai bỏ được con, giận thì giận vậy thôi. Các anh em của ông, có người đã lập gia đình có con rồi có cháu vẫn sống quây quần nơi mảnh đất của cha ông từ thời mới di dân, trừ người em gái út nữ tu đi ở xa.
Ít năm sau ông nghỉ hưu, bà thì nhà trường còn cần nên vẫn tiếp tục công việc. Vốn quen lao động chân tay, lại không muốn ở không, ông mở một dịch vụ nhỏ, chuyên sửa giầy dép các lơai. cho cả nam lẫn nữ bên Redlands. Nghề tay trái này ông học của ông nội khi còn ở nông trại. Tiệm của ông khá đông khách, tuy chỉ là khách địa phương, người Mỹ họ quí mấy đôi giầy đóng theo ni tấc vừa bền vừa hạp với chân nên thích sửa, nhất là dân trên vùng Big Bear và sa mạc Mojave, có người lái cả bảy tám  chục miles đưa giầy cho ông sửa.
Coi vậy ngồi hoài cũng mệt, tay búa tay kim mãi cũng nhức vai, tuổi tác có hạn chế nhất định, ông đi vào nghỉ hưu thực sự. Chẳng cần sang nhượng, ông để luôn cái tiệm cho một phụ tá giúp việc ông từ mấy năm nay. Anh này người Việt nam gốc Campuchia, cùng sinh hoạt trong nhà thờ được ông bà coi như con nuôi.
Giã từ với nghề nghiệp giờ là lúc muốn hưởng một chút cho thân nó nhàn, ông bà quay sang du lịch. Trong nước trước, ngoài nước sau, chỉ tiêu trước mắt là đi khắp 50 tiểu bang của Mỹ, tất nhiên kể cả Cali vì còn nhiều cảnh đẹp vẫn chưa đi tới. Phương tiện thì nhất định không đi máy bay, chỉ bằng phương tiện R.V. (loại xe đi xa tiện cho ngủ nghỉ trên xe). Năm 2000 mở đầu thiên niên mới cũng là lúc hoàn thành chỉ tiêu. Bang cuối cùng là Alaska, ông phải lái xe đi ngang địa phận phía tây của Canada.
Nói về chuyện tiền bạc, ông bà không phải là người ít tiền, tiền hưu, tiền để dành, tiền lời dịch vụ, tiền tích lũy mua căn nhà mới, nhưng trong chi tiêu lại rất tiết kiệm, không quá rộng rãi như người ta tưởng. Con cái chẳng có, chẳng phải nuôi ai thêm, chẳng phải lo cho con vào đại học, ngân sách gia đình chỉ tốn nhiều cho các lần du lịch xuyên bang.
Nhưng ông bà không phải chỉ sống cho riêng mình, mà còn đóng thuế cho chánh phủ, đóng góp cho cộng đồng, lại dâng hiến cho nhà thờ, giúp công tác từ thiện, ủng hộ quĩ trường học, chưa kể hay giúp đỡ bằng hiện kim hay đồ gia dụng cho các di dân từ xa đến theo truyền thống lâu đời của người Mỹ.
Nói về giúp đỡ di dân không hiểu sao ông bà hay có cảm tình với sắc dân gốc Á châu nhất là hai chủng tộc gốc Tàu và Việt nam, theo tôi đoán có lẽ hồi trẻ ông hay ta bà vùng venThái bình dương. Trước khi gia đình tôi sang định cư tại Mỹ, thì nhà bà đã có hai chị em người Mã lai gốc Hoa được cho ở nhờ khi họ sang du học tại đây. Họ tìm cách ở lại trong hợp pháp, rồi ra ở riêng sau khi lập gia đình. Một sinh viên Đại hàn thế vào chỗ họ, nhà ông bà lúc nào cũng có người lạ còn ông bà chỉ ở một phòng.
Căn nhà đang ở là của bố bà xây cất từ đầu 60. Vì ông cụ là mục sư nên trong di chúc có ghi sẽ dâng căn nhà này cho giáo hội sau khi con gái của ông mất đi. Di chúc không nói gì đến đời cháu, kể cả người phối ngẫu. Cho nên lúc cuối đời, ông đã phải mua phòng hờ một căn nhà khác nhỏ hơn trường hợp bà chết trước. Chiếc R.V. lúc nào cũng đậu sát garage, mấy lúc sau này khó ngủ nên hay đọc sách khuya, ông sử dụng nó như phương tiện sinh hoạt riêng, vì vậy mà ông đã bị trợt té khi bước hụt lúc xuống thang để vào nhà.
                    ****
Gia đình tôi định cư tại vùng ông bà ở vào đầu thập niên 90 sau khi được chánh phủ Mỹ nhận qua một chương trình tị nạn dành cho các cựu tù cải tạo. Do học chung trườngvới hai cô gái người Mã, bạn thân của con gái tôi đã giới thiệu gia đình tôi với ông bà. Biết chúng tôi từ Việt nam sang, ông có cảm tình ngay vì những ký ức liên hệ một thời với đất nước tôi hồi chiến tranh, nhưng lại chưa một lần đặt chân lên đất. Dần dần quen thân, ông bà coi con gái tôi như hai cô gái kia, đối xử trong tình đồng đạo, thương mến như con.
Lại nghe chuyện của tôi cải tạo trên 12 năm, vợ con một thời nheo nhóc ông bà càng quí mến hơn. Qua giao tiếp, tôi thấy khi nhắc tới Việt nam, có hai từ ông phát âm rất sõi là Saigòn và... Việt cộng. Nói đến Saigòn vì các bạn ông khen con gái ở thành phố này rất đẹp so với các cảng họ từng ghé qua, còn Việt cộng thì ông khâm phục vì họ đánh giặc gìỏi, nhất là trận địa Khe Sanh gây tổn thất nặng cho TQLC Mỹ lúc tàu ông đang đậu ngoài khơi Quảng trị lo yểm trợ tiếp vận cho chiến dịch.
Ấn tượng này ông vẫn giữ nguyên cho đến khi gặp tôi thì niềm cảm phục biến thành nỗi khinh bỉ, vì với tư cách cựu binh, ông không hiểu sao họ có thể đối xử với những người ngã ngựa vừa là đồng loại một cách tàn tệ như vậy khi tàn cuộc chiến! Sau này khi tình bạn kết thân, mỗi lần ông định rủ tôi đi đâu, tôi không đi, hoặc nhờ tôi một việc công ích mà tôi quên chưa làm thì ông hay dọa vui, "tao gửi mày về cho VC bây giờ", dù dọa vui nhưng lại có ép phê mới lạ.
Phần tôi chưa có người Mỹ nào tôi cảm thấy gần gũi thoải mái trong quan hệ thân tình bằng ông AL. Ông có kiểu xử sự xuề xòa tự nhiên như người Nam bộ (dĩ nhiên trước thời thập niên 60). Tôi với ông không có khoảng cách, gặp nhau tay bắt mặt mừng, tay ôm eo ông, noí chuyện theo kiểu tầm phào ngay từ phút đầu. Có điều ông không uống ruợu, cũng chẳng uống bia, không nghiền thuốc lá, chẳng biết uống trà nên anh em cũng khó lai rai ba sợi, được cái  ông lại thích phở bò, chả giò, nem cuốn, không chê nước mắm mà ưa cả cơm chiên cá nướng theo kiểu nấu nướng của  người Việt mình.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất là có lần ông rủ tôi sang Mễ, tiện thể ông đi chích một mũi thuốc giảm đau nhức cho cái vai của ông. Sáu tháng chỉ cần chích một mũi, bác sĩ Mỹ không dám làm chuyện này nên ông phải đi Mễ. Đã giao hẹn từ đầu là tôi sẽ đóng vai một anh cận vệ (bodyguard), vì tôi giống Đại hàn, mắt một mí, tướng người có vẻ biết võ. Còn ông cứ coi như một ‘big boss’ không biết làm trong ngành gì, chỉ biết tướng ông cũng đô con, dáng cao đẹp nói làm nhỏ không ai tin. Ông nói đùa với tôi, lâu lâu cũng cho tao lên gân một chút, tụi bác sĩ Mễ không phải chỉ nể người Mỹ vì tiền mà nó còn nể hơn nếu biết mày có chức có quyền, nó chữa trị tốt hơn!
Chẳng mất mát gì lại có dịp làm bạn mình vui, nên tôi thủ vai một cách xuất sắc. Chuyến đi lẽ ra vui hơn nếu đừng có chuyện bực mình trước khi vào đất Mễ. Chả là lúc ăn sáng xong ở Indio, ông bà trả bill riêng không tính phần tôi, biết cái tật sòng phẳng của người Mỹ hồi tôi đi Mỹ tu nghiệp từ năm 66, nhưng trong lòng có phần ấm ức vì đã thân quen, sáu bẩy đô  đâu có đáng gì, làm mất tình, lại cứ nghĩ có lúc họ cho con mình cả mấy ngàn đô không tiếc, nay lại tiếc bố nó bữa ăn sáng!
Trở lại chuyện đi Mễ, khám bịnh chích thuốc xong, phái đoàn ra về. Ông vui vẻ ra mặt, vừa hết đau vừa được bác sĩ, nhân viên clinic kính nể vì ít ai mang theo cận vệ đi khám bác sĩ tại chốn này. Phần ông cũng đóng trọn vai khi nét mặt ra chiều khiêm tốn như không muốn ai biết mình làm... lớn, nhưng suýt lộ bài vì lại giới thiệu rất nhiệt tình về tôi với mọi người ông gặp.
Xe qua biên giới, ông nói nhỏ với viên thanh tra, ‘ông này người Việt nam, cận vệ của tôi.’ Chiếc cần chắn ngang tự động nâng lên, xe chuyển bánh kèm theo cái chào khá lịch sự của người kiểm soát biên giới. Lạ một điều là tôi chẳng cần xuất trình thẻ xanh.
Quay lại Indio cũng cỡ 4 giờ chiều, tôi đang chán vì tưởng sang Mễ được thăm thú cảnh quan ra sao, rút cục thành phố cửa khẩu nằm ngay biên giới, sao chép hệt Mỹ, muốn vào đất Mễ thực sự phải lái thêm 50 miles nữa. Đang ngủ gật, thì xe dừng lại trước quán Sizzler, một loại quán ăn kiểu buffet. Ông bà mời tôi xuống ăn cho vui. Kinh nghiệm hồi sáng, lại biết bà xã ở nhà chờ cơm tôi viện cớ... chưa đói. Ông nói ngay, tụi tao còn đói nữa là mày. Xuống! Lần này vợ chồng tao bao. Tôi làm bộ miễn cưỡng xuống xe. Chưa bao giờ ăn đồ Mỹ ngon như bữa nay, ăn xong mới sực nhớ mình nói với ông chưa đói.
Ngày vui qua mau, người có tình sớm từ giã nhau. Ông ra đi như chuyện tình cờ, giản dị như mơ. Nói về tuổi thọ thì cũng đủ rồi, nhưng vì mến nhau nên chưa muốn ông đi.
Đêm hôm trước ông bị té khi xuống cầu thang của chiếc R.V. Bác sĩ cho biết ông phải giải phẫu thay xương hông. Trước hôm mổ, tôi và bầu đoàn thê tử vào thăm ông, mang theo cả thằng cháu ngoại mà ông rất thích vì nó cũng gọi ông là grandpa. Chuyện trò vui vẻ, chúc ông ca mổ bình an. Thằng cháu hôn ông chúc "Goodnight, Grandpa Al". Ông xúc động ra mặt, tôi biết đêm đó ông ngủ ngon.
Chuyện đời khó đoán, chẳng ai biết chuyện ngày mai, dù chỉ là ngày hôm sau. Ca mổ dự trù 11 giò trưa, định tối vào lại xem sao, thì khoảng 5 giờ chiều được tin ông mất. Chính bà cũng không ngờ, tưởng chuyện mổ xương hông đâu có gì phức tạp, bà lại còn đi ăn trưa rồi mới vô thăm ông. Nên chẳng ai được gặp ông, bà thì như ân hận, chúng tôi phải an ủi mãi không thôi. Về sau được biết ca mổ xấu đi do biến chứng của bệnh suyễn ông nhiễm từ hồi còn trẻ, nhưng thôi cũng là số cả.
Như di chúc để lại, chuyện này ông cũng đã nói cho nhiều người nghe, thân xác ông đồng ý hìến cho trường đại học nơi ông làm việc, gắn bó trong cương vị bé nhỏ của mình mấy chục năm qua. Gia đình ông tôn trọng ước nguyện của ông.
Trong buổi lễ tưởng niệm tại một thánh đường lớn vùng Inland Empire, ông được bạn bè, kể cả số người thân trên San Obispo kéo xuống, dành cho những cảm xúc tiếc thương rất chân tình. Tấm hình được phóng lớn mặc đồ thủy thủ lúc còn trẻ được đặt ở trung tâm. Bà biết ông thích tấm hình này, thường được đặt trên chiếc piano nơi phòng khách. Phần phát biểu, tang quyến dành hết cho bạn bè thân quen.
Ba người đại diện nhóm thọ ơn, một anh con nuôi gốc Campuchia, một cô gái Mã lai gốc Hoa, và tôi đại diện cho một gia đình H.O., vận dụng hết khả năng Anh ngữ của mình để biểu lộ lòng biết ơn chân thành qua lối xưng hô thân mật vừa Daddy, Uncle, vừa Brother tùy vai vế. Người Mỹ có tập quán những buổi lễ như thế này, tuy buồn nhưng nên gợi lại những kỷ niệm dí dỏm, vui vui khi nhớ người đã khuất, nhưng tôi mắt đẫm lệ, giọng nghẹn ngào đã không làm vừa ý người thủy thủ một thời vui kiếp hải hồ trên Biển Đông giáp bờ quê hương tôi. Sau buổi lễ, mấy chị em ruột của ông đến gặp tôi bày tỏ những cảm tình coi nhau như tình huynh đệ, họ cảm nhận đươc mức độ tôi quí mến ông. Tôi cũng gặp riêng bà nữ tu, em gái út của ông để trao đổi những gì ông tâm sự với tôi về bà, bà tỏ vẻ xúc động. Nét mặt bà còn phảng phất nét đẹp của một thời son trẻ nhưng vẻ sầu muộn hiện rõ trên đôi mắt.
Nhớ lúc sinh thời, ý nguyện của ông là sau khi đi hết 50 tiểu bang, ông bà sẽ làm một cuộc du lịch qua hai xứ, một chuyến qua Việt nam, một chuyến về Peru, nơi mà mỗi người có những kỷ niệm khó quên thuở thiếu thời. Ông sẽ đi với tôi qua Việt nam, ông sẽ đi với bà qua Peru. Cả hai cuộc đi đều không thực hiên được. Tôi có một phần lỗi vì trước đó ít năm (khoảng 98,99) ông có gợi ý chúng tôi cùng đi, nhưng tôi e ngại vì một anh cựu tù cải tạo dẫn một ông Mỹ cựu binh lang thang chỉ trỏ trên cảng Saigòn chắc không tránh khỏi con mắt tò mò của đám công an. Bây giờ là lúc thuận lợi cho chuyến đi thì ông lại bỏ đi sang bến khác.
Có điều an ủi là mọi người biết ông ra đi trong thanh thản và tin chắc rằng ông đã ghé bến bình an. Chúng tôi nhớ ông như một người bạn lúc sống thì chan hòa đằm thắm, thích giúp tha nhân, khi chết thì thân xác hiến cho khoa học, tiền cũng đem dâng, nhà đem hiến. Ra đời trần truồng, ra đi tay trắng, không mộ phần, không kỷ niệm chương, chẳng để lại dấu vết gì của một kiếp người trên đất.
Ông có để lại, thực sự ông có để lại cái tình, một chữ tình viết hoa, một di sản của những con người tốt bụng, mà những người còn sống, trong đó có gia đình tôi, không thể nào quên.

Đỗ Xuân Tê
(Mùa Thanksgiving 2012)