Mấy dòng tiễn biệt Trương Văn Thương,

8:01 PM |

Nguyễn Quốc Thái
Ngày tôi vào Sài-gòn để theo học lớp Kinh Thánh khóa 1962-1965, lúc ấy khóa học đã được 4 tháng và đang nghỉ. Học viên đầu tiên của trường là anh Trương Văn Thương dẫn tôi lên Đất Mới để xem qua cơ sở nhà trường. Anh là người Đà-nẵng, do lẽ đồng hương và cũng bởi tính tình của anh thân thiện nên dễ gần gủi. Tôi hỏi anh về sự học của nhà trường và tỏ vẻ phân vân e rằng không theo nổi, anh Thương khích lệ tôi và tôi cảm thấy đây là người bạn chân thành.
Sau đó khóa học chính thức bắt đầu, sau 3 năm trời cùng học hành, bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, chọc ghẹo, nghịch ngợm... Lúc ra trường mỗi người mỗi việc cách trở nhau, nhưng Thương và một số bạn vẫn giữ tình cảm thiết tha bạn bè. Những năm gần đây, vài ba tháng Trương Thương lại gọi điện thoại về Việt Nam nói chuyện, có lúc cả vài giờ đồng hồ và luôn miệng gọi tôi là huynh trưởng. Bên ngoài đôi khi nói năng mạnh bạo, nhưng trong lòng ẩn giấu tấm lòng nhân hậu. Thương có một cá tính đặc biệt là "yêu thì bảo rằng yêu, ghét thì bảo rằng ghét", không xu phụ cúi lòn ai, mang tấm lòng trung thực...
Ngày tái hôn anh đã mời tôi làm chủ lễ cho đôi bạn mới, nói lên tình cảm thân yêu giữa chúng tôi.
Ân tình đặc biệt giữa chúng tôi không thể nói bằng lời mà bằng cảm nhận sâu đậm.
Nay anh đã ra đi, lìa xa những phiền lụy của cuộc đời, để lại bao nỗi tiếc thương cho gia đình, bạn bè và riêng tôi.
Cầu xin Thánh Linh an ủi cho toàn thể tang gia, nén nổi buồn thương tử biệt để sống đạo và giữ đức tin, chờ đợi ngày chúng ta gặp mặt anh trong vinh quang rạng rỡ lúc Chúa chúng ta trở lại. A-men!

Nguyễn Quốc Thái
Người anh em thiết nghĩa.




 

From: Vinh Nguyen <vk.nguyen@sbcglobal.net>
To:
Sent: Tuesday, March 12, 2013 5:07 PM
Subject: Ông Trương Thương ngủ an trong Chúa ( Mr Thuong Truong pass away)


Kính thưa các tín hữu và thân hữu,

Ông Trương Thương vừa mới ngủ an trong Chúa vào lúc 3 giờ 27 phút chiều, ngày thứ Ba tháng 3, 2013. Tang lễ sẽ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2013. Mọi chi tiết sẽ được thông báo sau. Xin tiếp tục cầu nguyện cho tang quyến.

Mục sư Vinh
----------------------
Dear church members and friends,

Mr. Thương Trương rested in peace with the Lord at 3:27 PM on Tuesday, March 12, 2013. The funeral service will be on Sunday March 24. Please continue to pray for his family.

Pastor Vinh

Vĩnh Biệt Chú Trương Thương

8:01 PM |


Chú Trương Thương đã ngủ an trong Chúa vào lúc 3 giờ 27 phút ngày 12.3.2013 tại San Diego, California. Tang lễ sẽ được cử hành vào ngày chủ nhật 24 tháng 3. chủ lễ Mục sư Nguyễn Khắc Vinh, Sau đó gia đình đưa đi hỏa táng.

Kể từ khi đặt chân qua Mỹ đầu năm 2008 cho đến nay hơn 5 năm tôi đã có rất nhiều lần gặp gỡ, trò chuyện với chú Trương Thương. Chú cũng hay điện thoại thăm hỏi tôi và gia đình cũng như Ba tôi và hội thánh Vàm Nhon. Có lẽ cùng là họ Trương nên từ lúc còn ở Việt Nam tôi cũng đã hay đi chụp ảnh nghệ thuật và đi những điểm nhóm tư gia, Hội Thánh ở vùng Miền Tây Việt Nam chung với chú Trương Thanh em của chú Trương Thương. Rồi khi sang Mỹ tôi cũng thường hay nói chuyện điện thoại và gặp chú Trương Lý cũng là em của chú Trương Thương về công việc Chúa...Được biết chú Trương Thương trước năm 1975 cũng từng học thần đạo chung với các Mục sư Nguyễn Xuân Sơn, Thầy Lâm, Cô Bạch..v.v...

Có nhiều lần tôi bị ấn tượng bởi sự nóng nảy và thẳng thắng của chú Trương Thương. Lần thứ nhất tại điểm nhóm ở nhà thờ Garden Grove và một vài lần cùng đi nhóm với chú Hàn Quang Thoạt vào buổi chiều. Lúc ấy điểm nhóm này có một mục sư tự xưng là mục sư DVH chủ tọa của 4,5 cái nhà thờ thuộc Tin Lành và cũng xưng là mục sự của nhóm Cơ Đốc ở HT Garden Grove...trong lúc người này đang nói chuyện cùng với vị mục sư Mỹ chủ tọa hội thánh sở tại và có những lời chứng không chính xác nên bị chú Thương đứng lên nói "người này đi hai hàng, và như vậy là không được." Lần thứ hai mới năm rồi khi Hội thánh El Monte tổ chức lễ khởi công xây dựng Trung Tâm Truyền Giáo lúc các quan khách của địa hạt Mỹ cũng như nhiều mục sư Mỹ và Việt Nam ngồi phía trên, thì cũng lúc đó "ông mục sư, kim bác sĩ, tiến sĩ, văn sĩ...." cũng có mặt và lên ngay phía trên cùng với các mục sư ngồi rồi chìa danh thiếp... thế là bị chú Trương Thương đi lên đuổi ngay ông MS nhiều sĩ ấy ra phía sau. "anh không xứng đáng ngồi ở hàng ghế nầy".

Giờ đây Chúa cho chú yên nghỉ... nhiều người biết đến chú Trương Thương cũng bày tỏ lòng thương tiếc và mong có ngày gặp lại nhau trên nước vĩnh sanh. Cùng lúc nầy một trưởng lão ở điểm nhóm Seattle, tiểu bang Washington State cũng đã ngủ yên trong Chúa.

Ghi nhận và hình ảnh: 

Trương Công Khả














Vấn đề phong chức cho nữ mục sư

12:15 PM |
Đỗ Xuân Thảo

Chính thức cho phép thì Giáo Hội CĐPL qua lịch sử 170 năm tồn tại trên đất, chưa có điều luật nào được giáo hội công nhận sự tấn phong cho các nữ mục sư như là những tôi tớ hầu việc Chúa với chức danh và chức vụ ngang bằng các nam mục sư.
Do xu thế thời đại và phong trào đòi hỏi bình quyền nam nữ, vai trò của nữ giới càng ngày càng được tôn trọng trong xã hội, không phải chỉ là quyền cá nhân, quyền công dân với tư cách một con người mà cả vị trí lãnh đạo trong mọi ngành nghề, mọi lãnh vực của cuộc sống. Ngay những quốc gia chậm phát triển như châu Á, châu Mỹ La tinh, .., nhiều phụ nữ đã nắm các chức vụ nguyên thủ quốc gia . Nhiều nước phát triển tại Mỹ và Âu châu, các doanh thương và công ty lớn đã chọn CEO (tổng giám đốc) từ các chuyên gia phái nữ. Ở Mỹ và nhiều nước có nền kinh tế phồn thịnh, số sinh viên thuộc phái nữ tại  các trường đại học đã vượt trên 50% so với cánh nam.
Trong lãnh vực tôn giáo,  đạo nào, hệ phái nào thì số tín nữ cũng cao hơn số tín nam, chưa kể về ngoan đạo, siêng năng đi nhà thờ, chịu học hỏi kinh thánh, nhiệt tình tham gia chứng đạo,  sốt sắng với công việc Chúa thì theo thống kê thăm dò các nữ tín đồ vượt xa phái nam chẳng phải bây giờ mà cả ngàn năm trước. Tuy nhiên, số lượng thì đông, nhiệt tình và ta-lăng không thiếu, nhưng trải qua mấy ngàn năm nếu  quay ngược về thời kỳ tiền khởi của Phúc âm, vị trí và vai trò của phụ nữ vẫn chỉ là những tín đồ thuần thành, chưa vươn lên được các chức vụ lãnh đạo điều hành hội thánh hoặc được chọn lựa, đào tạo để trở thành các chức viện hầu việc Chúa, cụ thể là chức vụ mục sư được xức dầu và chính thức công nhận như các vị mục sư bên phía nam.
Dò tìm Kinh thánh, có một số quí ông khi đọc Tân ước cũng đã nêu sứ đồ Phao-lô chẳng có lần nói, ngay trong đám hội đàn bà cũng không được phép nói, muốn học hãy hói chồng mình ở nhà, ‘bởi vì đàn bà nói lên trong Hội thánh là không hiệp lẽ.’ (1 Cô-rinh-tô 15: 35). Đáp lại thì một số quí bà cũng viện dẫn trong Cựu ước, vậy ai là một trong những nữ tiên tri vĩ đại nhất thời Quan xét, nếu không phải là Đê-bô-ra, một nữ Quan xét của Đức Chúa Trời đã lãnh đạo và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi dân Ca-na-an? (Các Quan Xét 4: 4)
Quay lại giáo hội ta, chẳng nói đâu xa bà Ellen G. White vẫn đựợc coi như một thần linh tiên tri (dù bà không tự nhận) qua những hoạt động vừa viết sách, vừa nói tiên tri, vừa tham vấn giảng dạy đã góp phần chủ lực trong sự hình thành phong trào CĐPL  tiên khởi và sự phát triển của giáo hội CĐPL  trên toàn thế giớì. Giáo hội ta dựa trên Kinh thánh, nhưng mô hình tổ chức hoàn toàn mang tính chất  dân chủ. Cứ 5 năm một lần, lại tổ chức Đại hội toàn cầu bầu ra Chủ tịch và Ban chấp hành mới để điều hành công việc Chúa và chăm sóc phúc lợi thuộc linh cho khoảng 18 triệu tín đồ CĐPL trên khắp các châu lục.
Đại hội gần đây nhất được tổ chức tại Atlanta (Mỹ) năm 2010, tôi có chú ý đến hai điều được ghi trong chương trình nghị sự, thứ nhất việc phong chức cho các nữ mục sư, thứ hai tăng cường giới trẻ tham gia công việc lãnh đạo trong giáo hội. Nhìn chung hai vấn đề càng ngày càng được quan tâm chính là vai trò của phụ nữ và thanh niên trong công tác điều hành hội thánh.  Rất tiếc khi xem biên bản, vấn đề thanh niên được ghi nhận xúc tiến ngay, vấn đề phong chức phụ nữ chưa có sự đồng thuận của đa số và coi như phải chờ thời gian (pending). Tôi có hỏi vài vị mục sư Mỹ, Việt tham gia đại hội, họ cho biết dù các đại biểu của tổng hội Bắc Mỹ (có trụ sở của Tổng hội toàn cầu và vùng đất của những giáo dân Cơ đốc phục lâm tiên khởi) nhiệt tình ủng hộ, nhưng họ cũng chỉ đại diện cho hơn một triệu tín đồ trong khu vực. Số còn lại do các hạn chế về rào cản văn hóa, truyền thống địa phương nên đại biểu các châu lục khác chưa sẵn sàng chấp nhận xu hướng phong chức cho phái nữ.
Gần đây,không phải là sự ngẫu nhiên vấn đề phong chức lại được đặt lại với tầm vóc qui mô hơn, theo chiều hướng tích cực hơn, mở đầu là từ tổng hội Bắc Mỹ, cụ thể là Liên hiệp hội Thái bình Dương nơi đa số cộng đồng Cơ đốc người Việt sinh hoạt , một hiệp hội đang dẫn đầu về tiền dâng đóng góp cho tổng hội, một vùng đất mà giáo hội ta đã thiết lập, đầu tư nhiều trường đại học lớn, bệnh viện lớn không chỉ vì uy tín có tầm vóc quốc gia quốc tế, mà còn tạo thu nhập về nguồn tài chánh đáng kể trong ngân sách của toàn cầu tổng hội. Chính tại hiệp hội này , nhiều phụ nữ đã nắm các vai trò chủ chốt  trong việc giảng dạy, quản trị, điều hành kể cả các chức vụ lãnh đạo các hội thánh lớn  nhỏ trong khu vực.
Nhìn vào thực tế sinh hoạt tại các giáo hạt địa phương, khi nói  không có tiền lệ phong chức cho nữ mục sư, nhưng không có nghĩa là chưa có …mục sư nữ.Theo thống kê mới nhất tại tổng hội Bắc Mỹ (gồm Canada và Mỹ) thì hiện nay có khoảng 4,000 mục sư chăm sóc cho trên một triệu tín đồ. Ngạc nhiên là trong số này có bóng dáng của 107… nữ mục sư. Dù là con số nhỏ và chưa được thừa nhận chính thức, nhưng vì nhu cầu công việc của các hội thánh, họ vẫn đang đảm nhiệm các chức vụ chăn bày không kém hiệu quả so với các đồng công phái nam. Thậm chí một hội thánh có cả trên 2, 000 tín đồ tại nam Cali, chủ tọa là một nữ mục sư với học vị tiến sĩ thần học.
Người viết rất vui mừng là giữa năm 2012, sau ba tháng thăm dò dư luận,  thu thập ý kiến, tranh luận công khai, Ban chấp hành thường trực của Liên hiệp hội Thái bình dương gồm 18 thành viên đã nhất trí bỏ phiếu phong chức chính thức cho 14 phụ nữ, trong đó có hai nữ mục sư tiến sĩ đã và đang chủ tọa hai hội thánh lớn nhất tại nam California (như có lần tôi giới thiệu trong bài Hiệp nhất & Đồng nhất trong Hội thánh trên tinhưu.net). Ngay sau bản tin này, trong một bài báo khác, cũng trên  cơ quan ngôn luận của Liên Hiêp hội, ban chủ biên đã cho đăng bài, Chúng tôi cần nữ mục sư, nêu bật nhu cầu cần các mục sư phái nữ cho công việc Chúa và tỷ lệ không cân đối khi 40 vị nam mới có một vị nữ  là người chăn bày là điều không thể chấp nhận trong cộng đồng dân Chúa khi Chúa đều yêu thương và tạo cơ hội đồng đều cho cả người nữ lẫn người nam. Cho nên tôi tâm đắc với tác giả bài báo khi nêu câu Kinh thánh trong sách Giô-ên, câu 28,29 của đoạn2:
‘Sau đó, ta sẽ đổ Thần ta trên cả loài xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri; những người già cả các ngươi sẽ thấy chiêm bao; những kẻ trai trẻ các ngươi sẽ xem sự hiện thấy. Trong những ngày đó, dầu những đầy tớ trai và đầy tớ gái, ta cũng đổ Thần ta lên’
Ngày đó chính là bây giờ, khi lịch sử nhân loại đi vào thời kỳ cuối cùng. Không gì thích hợp bằng thời điểm này khi một liên hiệp hội can đảm mở đường cho một cách nhìn mới về tổ chức nhân sự trong giáo hội và làm tiền đề cho sự định hình dư luận cho các khu vực khác khi đại hội toàn cầu sẽ họp lại hai năm tới đây.


Đỗ Xuân Thảo



Phần viết thêm: Cũng miên man vài chuyện bên lề, là người hay viết và theo dõi chứng đạo cho tinhưu.net, chúng tôi cũng như đa số tín hữu trong lẫn ngoài nước của cộng đồng CĐPL người Việt mình, luôn trân trọng và đánh giá cao vai trò và sự đóng góp của các bà, các cô, các chị ,các em trong sinh hoạt đa năng đa chiều của các Hội thánh và lại mong biết đâu ngày nào đó có một nữ mục sư người Việt hay gốc Việt, mà tiềm năng này rất rõ trong số thanh thiếu niên của các hội thánh ta. Nhìn lại các thế hệ qua, chủ quan viết cho vui, tôi xin đan cử thứ tự theo tuổi tác, các bà Trần Minh Loan (San Jose),Nguyễn thị Hồng Hải (Túy Loan), Nguyễn thị Ngọc Liên (El Monte),Phạm thị Liên (Phú nhuận), Lại Phương Hạnh (Seattle),  Trần thị Phương Mai (Cần Thơ) …v.v…được kể như đủ tiêu chuẩn trở thành ‘nữ mục sư’, ít nhất cũng dựa trên khả năng giảng dạy, dịch thuật, sốt sắng và yêu mến công việc Chúa. Thanh thiếu niên thì tiềm năng vẫn là hội thánh Phú Nhuận, và hải ngoại thì đang nở hoa ở El Monte. 


Valentine của Em

12:47 AM |

Đỗ Xuân Tê
‘Yêu’ dù bằng ngôn ngữ nào, theo tuần báo Time,thì vẫn là cảm xúc tuyệt vời nhất trên thế gian. Cho nên hạnh phúc thay cho những ai biết ‘yêu’ và ‘được yêu’. Hàng năm cứ vào ngày 14 tháng hai, người ta lại khơi dậy và trao nhau những cảm xúc thắm thiết dành cho tình yêu của những người  đang yêu. Họ là những tình nhân, có thể là những cặp vợ chồng trẻ, có khi là những đôi tình già, thậm chí lan tỏa sang cả những em bé ở lứa tuổi học trò, như các trường tiểu học Mỹ chỗ tôi ở, các cháu cũng được cô giáo khuyến khích làm những tấm thiệp nhỏ trao tặng cho các bạn cùng lớp nhân ngày lễ tình yêu mà thế giới quen gọi là Valentine’s Day.
Nói đến thiệp trao gửi cho nhau thì trái tim luôn là biểu tượng hàng đầu, màu hồng là màu được ưa thích, Nội dung thì đa dạng, có thể là một câu hay một đoạn thơ tình, có thể là một danh ngôn về tình yêu, kể cả các câu thơ trích từ Kinh thánh (trong sách Thi Thiên, Nhã ca, I Cô-rinh-tô). Có điều rất phổ cập là qua nhiều thế kỷ, nếu tính từ thế kỷ thư 14 khi Ngày Tình Nhân được chính thức thừa nhận, thì phần cuối của tấm thiệp bao giờ người nam cũng viết kèm theo một nhóm từ rất lạ nhưng rất quen, gởi từ Valentine của Em (From Your Valentine).    
Vậy Valentine là ai? một người hay một loài hoa/ một địa danh hay một điển tích?  Cứ theo truyền thuyết thì Valentine là tên một ông thánh được người đời quen gọi là Saint Valentine. Ông là một tu sĩ Thiên Chúa Giáo được giáo hội công giáo phong thánh vì không chịu từ bỏ đức tin của mình trước khi lên đoạn đầu đài. Nhưng giới trẻ lại ngợi ca ông về việc ông làm dành cho tình yêu lứa đôi của họ để rồi khi chết đi được xưng tụng như ‘ông thánh của Tình yêu’ (Saint of Love). Chuyện kể khi sinh thời, với tư cách một linh mục, ông là người hay cử hành lễ hôn phối cho các đôi tình nhân trẻ yêu thương nhau. Có điều lễ thường được tổ chức ‘chui’, vì theo luật của đế quốc La mã thời ấy, vua có lệnh cấm các thanh niên không được cưới vợ khi có lệnh gọi vào lính để phục vụ cho nhu cầu chiến trường. Họ cho rằng khi vương vấn chuyện vợ con thì sẽ không dành hết tinh thần phục vụ cho cuộc đời quân ngũ. nhất là khi ấy La mã là một đế quốc rộng lớn, quân lính thường phải đi xa và đồn trú ở những vùng đất xa xôi ngoài biên cương. Valentine rất thông cảm điều này và không ngần ngại thường xuyên giúp đỡ các cặp tình nhân trẻ khi được yêu cầu, dù ông biết cái giá phải trả khi bị phát hiện là mức án tử hình dành cho những ai làm trái lệnh vua.  Ngược lại ông rất hạnh phúc khi thấy những con chiên trẻ của mình được nên vợ nên chồng và hưởng được sự mặn nồng của tình chăn gối theo giáo luật và không phải ân hận nếu một mai người tình của mình gặp cảnh ‘sinh Bắc tử Nam’ ngoài quan ải.
Chuyện kể về ông thánh Valentine còn nhiều kỳ bí khi vua Claudius II, một người luôn chống đạo đã dành cho vị tu sĩ một cơ hội thoát án tử hình nếu ông chịu chối bỏ niềm tin nơi Thiên Chúa. Ông giữ vững đức tin và sau đó bị chặt đầu sau  một thời gian tù tội.  Trong tù ông được viên cai ngục dành cho vài đặc ân. Ông phải lòng người con gái mù của viên cai ngục, nhiều lá thư tình được gởi chui và thư của ai thì chỉ biết phía dưới những cánh thư rơi thế nào cũng có dòng chữ,  ‘From Your Valentine’. Lại càng ly kỳ khi có giai thoại lúc hiển thánh chính Valentine đã chữa khỏi tật khiếm thi cho người con gái ông yêu, thật hư thế nào thì cũng vẫn là huyền thoại.
Chỉ biết nhiều thế kỷ sau tên ông và ngày ông chết trở thành biểu tượng cho tình yêu và Valentine’s Day bỗng nhiên là dịp kỷ niệm và trao đổi tình yêu thương cho mọi lứa tuổi trên toàn thế giới. Sớm nhất và nhiệt tình nhất vẫn là từ Mỹ, ngày Valentine được đồng hóa với văn hóa Mỹ, chẳng vậy mà nhiều nước chống sự giao lưu và sự tràn ngập của văn hóa Mỹ đã cấm luôn cả ngày Valentine! Nhưng theo dòng thời gian và xu thế thời đại, chẳng ai nỡ cấm đoán chuyện tình yêu , hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung quốc (một nước chống đế quốc Mỹ) và Ấn độ (một nước chống văn hóa Mỹ) cuối cùng kẻ trước người sau đã công khai du nhập Valentine’s Day và  hồ hởi tham gia chẳng thua gì ở Mỹ.
Riêng Việt nam mình, ngay trước 75 cũng hiếm người biết và kỷ niệm Ngày Tình Nhân, nhưng dù nay là nước cộng sản, giới trẻ thủ đô và các tỉnh thành phía nam nhớ ngày 14 tháng hai còn hơn ngày thành lập Đảng 3/2 hàng năm. Chi tiết này tôi đọc được trên tờ Tuổi Trẻ. Đây cũng là tín hiệu đáng mừng, chỉ tiếc một điều các con cháu của những nhà tư bản đỏ đã tiêu sài bằng những hình thức vui chơi quà cáp vô cùng tốn kém làm mất ý nghĩa nguyên thủy của ngày Valentine’s Day.
Ngày nay tại nhiều nước, Valentine’s Day được giới làm ăn coi như một đòn bẩy kinh tế, sự tiêu pha và mua sắm dành cho ngày này chỉ đứng sau dịp lễ Nô-en và đầu năm. Khởi đầu trao gởi cho nhau chỉ là thiệp và hoa hồng, sau thêm kẹo hoặc đồ ngọt thường là chocolate, và bây giờ thì theo đà ưa thích quà tặng nên đồ trang sức và các vật dụng kỹ thuật số được coi như chỉ dấu đánh giá độ mặn nồng …từ Valentine của em. Nhớ lại thuở còn lãng mạn, ở Mỹ có một hãng kẹo mang tên Necco,
chuyên đề sản xuất loại kẹo bột có hình trái tim tên là Sweethearts, hàng năm xuất xưởng cả 5-7 tỷ viên. Trên viên kẹo luôn có  hai hàng chữ in rất khéo, một ngắn một dài ghi các ngôn từ được khách hàng ưa thích qua một cuộc thăm dò bình chọn hàng năm, mặt kia chỉ chừng hai ba chữ, nổi bật nhất vần là ‘Marry Me’, ‘Love You’ … gần đây có cả ‘Tweet Me’, ‘Text Me’. Thương hiệu này cũng độc đáo ở chỗ, sản xuất 11 tháng, nhưng chỉ bán ra trong 3 tuần trước ngày Valentine. Sau lễ các viên kẹo bị hãng thu hồi và đem hủy vì …quá đát (mất thời gian tính).Thực sự số thu về không là bao và  dù bị các hãng chocolate cạnh tranh nhưng thương vụ vẫn phát đạt và tồn tại từ hơn một trăm năm nay.
Đầu xuân tản mạn chuyện người tu sĩ có tên Valentine, một huyền thoại dẫn đến sự sản sinh dấu ấn lãng mạn của tình yêu qua ngày Valentine’s Day, để rồi ngẫm lại đã bao năm nước chảy qua cầu, biết bao nhiêu cặp tình nhân đã yêu nhau và vẫn còn nhớ nhau qua những tấm thiệp và hoa hồng. Nhưng cũng không ít những mối tình dang dở, yêu nhau rồi phụ nhau, yêu nhau rồi xa nhau , dù viện ra bất cứ lý do gi thì tình yêu thời buổi này vẫn là cái gì mong manh dễ vỡ, bất giác tôi nhớ một đoạn thơ của một người nữ khi cô viết tặng tôi,
    Bạn tìm đâu một tình yêu vĩnh cửu
    Bạn tìm đâu tình ái chẳng đổi thay
    Chuyện tình nào cũng có phút đắm say
    Nhưng đoạn kết vẫn chỉ là dang dở
Là một người chứng kiến nhiều cuộc tình chia tay, trong đó có cả những người thân của mình, tôi vẫn không tin ‘tình chỉ đẹp khi còn dang dở’ mà nhân ngày Valentine’s Day, xin chúc những người trẻ hãy yêu nhau bằng chính con tim của mình, yêu nhau chẳng phải chỉ  là ‘cởi áo (ối à) cho nhau’ mà bằng sự tin cậy nhau, tha thứ cho nhau và vượt lên số phận qua đức tin của mỗi người.

Cali, Valentine’s Day 2013
Đỗ Xuân Tê 


Wake up my love! Wake up!
Don't leave me this way
I can't survive, I can't live Without your love,
Oh darling Don't leave me this way,
Oh darling please, please don't leave me this way ...

Xuân về nhớ một bài hát

12:34 AM |
Đỗ Xuân Tê

Trong công trình sáng tác đồ sộ hơn 50 năm của một nhạc sĩ hải ngoại, gồm trên 200 ca khúc, phải nói Nhật Ngân là người hay viết những bài ca về mùa xuân mà nội dung thế nào cũng nói đến cái Tết cổ truyền của dân tộc Việt, một tập tục gợi nhớ những ngày xuân khi đất trời giao hòa nhà nhà xum họp mừng vui cho cuộc sống bước vào năm mới.
Một trong những bài hát được quần chúng hâm mộ nhất là bài Xuân này con không về và thực sự bài này đã đi vào huyền thoại. Ca khúc một thời không chỉ được hát để thể hiện tâm tư của những anh lính xa nhà vì hoàn cảnh chiến tranh không thể về thăm mẹ thăm em vui xuân với bà con chòm xóm như những tháng năm thanh bình thuở trước, mà bài hát còn theo chân những người con tha hương sau chiến tranh dắt díu nhau ra hải ngoại để rồi mỗi khi tết đến xuân về lại nức nở sụt xùi  nhớ mẹ nhớ em trong  phút giao thừa khói hương lan tỏa.
Bài hát đã để lại dấu ấn khá đậm đà trong lòng những người xa xứ khi thế hệ thứ hai ở hải ngoại vẫn còn biết nghe hoặc biết hát trong các dịp họp mặt  mừng Xuân tìm về tình tự dân tộc của những người con mang dòng máu Việt. Chẳng thế mà nơi vùng tôi ở, một hội thánh CĐPL  tuy nhỏ nhưng mỗi năm khi tổ chức văn nghệ Tết cho tín hữu và bà con cộng đồng người Việt tại đia phương, thiếu gì thì thiếu nhưng không thể thiếu bài ca huyền thoại này.
Lại càng vui khi tại quê nhà bài hát tuy không cho phép chính thức nhưng vẫn được quần chúng thính giả sau chiến tranh công khai xử dụng và cùng nhau chia sẻ mỗi khi đất trời vào xuân. Nói cho ngay, bài hát mang sắc thái phi chính trị như nói hộ nhiều điều thể hiện niềm thương nỗi nhớ cho bất cứ thân phận nào do hoàn cảnh vì cuộc sống vì sinh kế phải xa quê xa gia đình, cuối năm không thể về thăm cha thăm mẹ để sưởi ấm lại tình thương, để cùng nhau nhâm nhi chút mứt gừng, ăn chút bánh tét bánh chưng trong ba ngày tết, có gần thì cũng kẻ trong nam người ngoài bắc, người thành thị kẻ dưới quê, còn xa thì tận mãi đông Âu, xứ Nga, xứ Hàn, Đài loan, Campuchia, Lào, Thái…, chưa kể dòng người gốc Việt xuất dương di tản sau chiến tranh đang sinh sống khắp năm châu bốn bể.
Là người làm công tác văn nghệ  cùng ngành với Nhật Ngân khi anh bị động viên vào quân ngũ, tôi chưa thấy bài hát nào được thính giả yêu cầu hát nhiều lần trong mỗi dịp xuân về trên làn sóng phát thanh truyền hình miền nam,  trên các sân khấu ca nhạc lớn nhỏ, trong các chuyến lưu diễn nơi tiền đồn, xã ấp, rồi các đơn vị đóng quân nơi rừng sâu núi thẳm, hải đảo xa xôi, các tụ điểm bến xe bến phà nhà ga sân bay bến cảng, nói chung từ tiền tuyến đến hậu phương, từ làng quê lên phố thị đâu đâu cũng nghe văng vẳng tiếng hát của các nghệ sĩ nổi tiếng một thời trong đó phải kể ca sĩ Duy Khánh, người thể hiện thành công nhất bài hát này, đặc biệt vào những chiều cuối năm lan tỏa sang những ngày đầu xuân. Có điều trớ trêu là xuân về thì chỉ mong xum vầy đoàn tụ, vợ trẻ mong chồng, mẹ già mong con, con thơ ngóng bố, em gái hậu phương trông anh trai tiền tuyến, người yêu quê nhà chờ bạn tình xa…ai lại đi hát đi nghe những ca khúc nội dung chia phôi lỗi hẹn vào những giây phút đã không vui mà nuớc mắt lại trào?
Nhưng rồi ra ai cũng hiểu khi đất nuớc còn chiến tranh quê hương còn khói lửa thì mấy ai, mấy gia đình hưởng trọn được niềm vui?  Cho nên Nhật Ngân như hiểu được tâm trạng này nên anh đã viết lên ca khúc mà âm điệu thì lắng sâu ray rứt, ca từ thì mộc mạc chân quê, ai hát cũng được ai nghe cũng mủi lòng. Tôi nhớ một lần đi lưu diễn bên Lào và Thái lan đầu thập niên ’70,  hồi ấy chưa có chuyện di tản vượt biên hay lao động xuất khẩu, mà khán giả chỉ là những bà con mình tha phương cầu thực trên đất khách, nhiều người đã khóc khi nghe hai bài hát Đêm Đông và Xuân này con không về. Cho đến nay dù bốn mươi năm đã qua, nhưng bài hát vẫn được hát và cảm xúc thì chẳng bao giờ vơi đối với những thân phận xa quê mỗi dịp xuân về.
Nhớ lại bài hát của Nhật Ngân, ta cũng lại đồng cảm với tâm trạng của người nhạc sĩ tài hơa  không chỉ viết về mùa xuân này, một mùa xuân dành cho những nhân thân nơi cõi tạm quê nhờ, mà thực sự anh luôn mơ tới một  mùa xuân vĩnh cửu, nơi không còn ghen ghét hận thù, nơi chẳng còn sinh ly tử biệt, một  chốn bình yên một ‘thiên đường này anh mơ ước bao lâu’ như chính anh đã viết trong bài Một mai giã từ vũ khí, ngẫu nhiên trùng hợp với  ước vọng của những người có đức tin khi mơ về nơi trời mới đất mới, nơi Đức Chúa Trời sẽ ở giữa loài người, Ngài sẽ lau ráo hết  nước mắt cho chúng sinh, sẽ không có sự chết, cũng chẳng còn than khóc, đau đớn nữa (Khải Huyền 21: 4).
Qua  sự nghiệp sáng tác, nhiều người tưởng Nhật Ngân là chàng trai xứ Huế, nhưng biết anh, tôi xin được bổ sung thêm về quê quán của anh, mà cũng là tác giả bài Tôi đưa em sang sông,  anh gốc người Thanh hoá, có sống ở Huế một thời gian không lâu, nhưng gắn bó nhất với thời trai trẻ vẫn là quê hương Quảng nam-Đà nẵng, một vùng đất anh luôn ôm ấp như chính những người con xứ Quảng cũng nhiệt tình đón nhận thương mến anh, và nếu nghe lại bài ca, ‘Quảng nam quê ta ơi’ anh sáng tác riêng cho vùng đất địa linh nhân kiệt này thì mới hiểu hết tình quê xứ Quảng nơi anh.

Đỗ Xuân Tê



Đầu năm nói chuyện Yêu thương

3:41 PM |


Năm cũ đã qua, năm mới lại đến. Chu kỳ thời gian vận hành của trời đất vẫn quay đều chừng nào trái đất chưa đến hồi tận thế. Nói theo nghĩa thuộc linh chừng nào Chúa chưa trở lại và mọi  sự trên đất chưa kết thúc theo ý của Thiên Chúa.

Mấy năm trở lại đây, đăc biệt năm vừa qua, thiên hạ nhắc nhiều, suy diễn nhiều về ngày tận thế. Có người tin có kẻ ngờ, nhiều người tỏ ra thờ ơ, nhưng cũng có kẻ bán nhà bán cửa, bỏ công thôi việc, thậm chí bán cả nhà thờ như một ông mục sư Tin lành ở mạn bắc Cali khi ông tin chắc là ngày tận thế sắp đến (với ngày tháng cụ thể) rồi bỏ tiền cùng quyên góp cho một chiến dịch cảnh báo sự kiện này trên toàn nước Mỹ. Theo sở thuế của Mỹ chứng thực có năm ông quyên được cả 20 triệu USD. rồi Chúa vẫn chưa đến, ông sinh bệnh, mất tiền, mất nhà thờ, tín đồ mất chỗ nhóm, báo hại cho nhiều người làm theo ông cả tin vào lời tiên tri hão.

Ấy vậy mà những năm kế tiếp, người ta vẫn còn bày chuyện một ngày ngắn hạn nào đó sẽ có tận thế, một ngày mà trái đất sẽ tiêu tan trần gian xóa sổ. Thật sự chẳng cần suy đoán, ‘ngày đó’ sẽ đến, đến bất thình lình, bất cứ lúc nào, nhưng may thay Kinh thánh đã chỉ rõ chỉ có Đấng Tạo Hóa, Đấng làm ra muôn vật mới biết rõ điều này. Chính Chúa Giê-su Đấng thông hiểu mọi sự cũng còn cảnh báo chỉ có Cha ta ở trên trời mới nắm ngày giờ cụ thể.

Cho nên, là những người có đức tin, chúng ta không tin vào những lời đồn đóan của con người mà chỉ vững tin là Chúa sẽ trở lại và trở lại một ngày không xa dựa theo những dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng như các tôi tớ của Chúa thường giảng dạy.

Điều quan trọng là ngày nào còn sống trên thế gian, thì mối quan hệ giữa người với người vẫn là nhân tố thiết yếu và tố chất yêu thương lại càng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày chưa kể giữa những người đồng đạo với nhau. Chính Chúa cũng thường nhắn nhủ con cái của Ngài nên tỏ tình yêu thương lẫn nhau như ‘ta yêu thương các ngươi’.  

Năm nay theo niên lịch là 2013, con số 13 làm tôi liên tưởng đến Chương 13 trong sách 1 Cô-rinh-tô mà tác giả là sứ đồ Phao-lô khi ông viết về ý nghĩa của Tình Yêu Thương, một chương mà sau này các học giả nghiên cứu về Tân ước cho đây là một trong những chưong tuyệt vời nhất củaThánh  kinh.  

Tôi chú ý đến một câu mà sứ đồ đã ví von khi ông lấy ‘đức tin’, một tập quán mang niềm tự hào của người Cơ-đốc để đánh giá thái độ của người tin Chúa , ‘dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chẳng ra gì’’ (câu 2)

Biểu lộ về tình yêu thương không hẳn chỉ bằng môi bằng lưỡi, bằng những cái hôn cái hug theo thói quen thường thấy, mà Phao-lô chỉ thẳng ra bằng một số hình thức cụ thể, trong đó theo tôi mang  tính nhân bản nhất vẫn là ‘có tình yêu thương thì hay làm điều nhân từ và chẳng hề ghen tị’. Nói theo nghĩa thường thì nhân từ là biết thương người và làm điều tử tế, một khi đối xử tử tế thì chẳng còn ghen ghét tị hiềm, một thói xấu mà con người thường vấp phạm từ buổi sáng thế.

Quả thật ghen tị là một thói xấu, phản lại tình yêu thương và tác hại nặng nề đến mối quan hệ giữa người với người, nó tồn tại nhãn tiền ngay trong gia đình cha mẹ con cái, trong họ tộc chú bác cô dì, trong anh em đồng tông đồng sở, trong  bạn bè lối xóm xa gần, trong cộng đồng mỗi  người đang sống, mà  còn đi xa hơn len lỏi vào cả các con cái Chúa trong các hội thánh, mà nếu không ngại  ‘vạch áo cho người xem lưng’, ai cũng có thể chỉ ra các trường hợp cụ thể ở những nơi những chốn một thời họ từng sinh hoạt, bất kể Mỹ hay Việt, trong nước hay hải ngoại, giống dân này hay sắc tộc kia.

Nói cho  ngay, ghen tị là căn bệnh xã hội có di căn từ khi xác lập cộng đồng loài người, biểu thị ngay từ những ngàycó Ê-va và A-đam trên đất. Các gương xấu vì ghen tị đã được thuật lại trong anh em nhà Ca-in, trong đám anh trai nhà Giô-sép mà hậu quả khôn lường mang đến các bi kịch gây thương vong và điêu đứng cho các nạn nhân bị anh em hay người đời ghen ghét.  

Ngày nay, chẳng nói đâu xa ngay trong các hội thánh của mình vấn nạn thiếu tình yêu thưong vẫn còn tồn tại, đa phần do tính ghen ghét tị hiềm từ những điều nhỏ nhặt trong sinh hoạt, chuyện ăn  chuyện uống, quan hệ cá nhân  đến những sự việc nghiêm trọng hơn khi chia rẽ bè nhóm, ngay cả trong công việc tông đồ phục vụ tha nhân, khi sự yếu đuối của con người vốn chỉ muốn cho mình là nhất và quên đi vinh hiển chỉ dành cho Chúa qua những công việc công đức mình làm. Chính thói ghen tị làm mất tình đoàn kết, hiệp một trong con cái Chúa, gây khó xử cho việc điều hành lãnh đạo hộị thánh,mà đôi khi có cả chức viên trong ban trị sự. Có ngưòi đã bỏ hội thánh, thậm chí chính tôi đã được nghe lời than thở của một nữ tín đồ vùng tôi ở khi cô phàn nàn mối quan hệ soi mói của những người chị em của mình mà phải thốt ra, ‘họ ác lắm bác ơi!’.

Đầu năm tản mạn chuyện yêu thương mà người viết cứ như muốn phơi bày mấy cái tiêu cực trong sinh hoạt hội thánh, trong quan hệ cộng đồng. Quả thật chẳng ai muốn làm như vậy, nếu có viết ra thì cũng chỉ là nói hộ cho nhiều người và cũng là dịp để chính tôi, một kẻ bất toàn nghiệm lại bản thân mình có vấp phạm đâu đó trong cuộc đời tin kính dù một lần hay nhiều lần, vô tình hay hữu ý.

Đạo của Chúa cốt lõi vẫn là ơn cứu rỗi, ai đã tin và theo Chúa đều hiểu điều này. Đức tin là quan trọng, sự trông cậy là thiết yếu, ấy vậy mà Phao-lô khi so sánh với tình yêu thương, ông vẫn cho là ‘trong ba điều ấy tình yêu thương vẫn là trội (trọng) hơn cả’.

Nhớ lại khi đi tù cải tạo, tôi ở chung với một vị sư già. Thầy là giám đốc tuyên  úy Phật giáo trong quân đội miền Nam và có quan hê quen biết với gia đình tôi. Có lần thầy hỏi tôi, bà cụ anh còn đi chùa không, tôi trả lời bà cụ con đã mất, rồi tiện dịp tôi thưa với thầy gia đình ở nhà vơ và các con đã tin Chúa. Lý do làm sao tôi cũng kể sơ qua. Nghe xong, thầy chỉ nói, “Thế cũng được, giáo lý của Chúa Giê-su về nhân từ bác ái cũng sâu lắm.” Rồi như để tôi đỡ bối rối, thầy quay sang chuyện khác. Tôi cứ nhớ lời thầy và  coi như lời chứng, rồi tìm hiểu về Kinh Thánh, khi ra trại theo gương vợ con, từng bước tôi trở thành tín đồ Cơ-đốc.


Cali, ngày đầu năm

Đỗ xuân Thảo



Ánh sao ĐÊM THÁNH

12:15 PM |
Từ hơn hai ngàn năm trước, một ngôi sao được coi như sáng nhất trong các vì sao đã soi tỏ một cảnh tượng diệu kỳ đến lạ lùng xảy ra giữa đêm đông thinh lặng tại một thành nhỏ có tên Bết-lê-hem.  
.
Ánh sao về sau người ta quen gọi là Ngôi sao Bết-lê-hem, mặc nhiên được ghi nhận như một tác nhân chứng giám đời đời cho sự ra đời của một Đấng Thánh, một hài nhi có tên gọi Giê-Su, một biểu tượng cho ân điển cứu chuộc loài người,  một món quà bằng xương bằng thịt mà Thượng Đế ban tặng cho nhân loại nhằm xóa tan đi mầm mống của tội lỗi mà tổ phụ của họ đã phạm thông qua sự sa ngã của vợ chồng A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen. 
                   
Khởi đầu ánh sao như một thiên thể được sứ đồ Ma-thi-ơ ghi nhận trong sách Phúc âm như là ánh sáng soi đường cho ba vị bác sĩ phương Đông trên đường tìm về nơi sanh hạ của một Đấng Thánh mà họ tin là hiện thân của Đấng Christ, “ngôi sao mà họ đã thấy bên đông-phương, đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại” (Ma-thi-ơ 2: 9). Ngôi sao về sau được coi như biểu tượng thuộc linh, trở thành ánh sáng chỉ đường dẫn lối cho những ai muốn tìm về với Đấng Cứu Thế, muốn nhẹ gánh trần gian, muốn hưởng ân cứu chuộc không phải chỉ cho đời này mà cả cho đời sau. 

Rồi trải qua các thế đại, người ta kỷ niệm sự kiện Giáng Sinh không phải chỉ là những thánh lễ Nô-en trong các nhà thờ, nhà nguyện mà đã lan tỏa ra xã hội trở thành một lễ hội gây hồ hởi khắp hành tinh coi đây như một Tin Mùng đời đời cho muôn dân trên đất. Hình ảnh ngôi sao Bết-lê-hem được gắn liền với hoạt cảnh "đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời/nằm trong hang đá nơi máng lừa", ở đó có Chúa Hài Đồng, có bà Ma-ri, có ông Giô-sép, và ba vị thông thái mà từ thuở ấu thơ trong ký ức mỗi người dù trong hay ngoài đạo cũng  một lần cảm nghiệm được tính cách thiêng liêng về ngày sanh của Con Thiên Chúa, về tích Đức Chúa Trời ở cùng người, về  biến cố lịch sử rẽ đôi dòng thời gian của nhân loại thành hai kỷ nguyên.trước và sau Thiên Chúa.

Cũng từ  ngày ấy, đạo của Chúa được trải ra khắp đất, lời của Ngài được  rao giảng cho muôn dân, nhiều người đã tìm về ánh sao đêm thánh như bước khởi đầu cho cuộc hành trình xây dựng niềm tin mà cứu cánh và mục tiêu  cuối cùng  là tin nhận Đức Chúa Giê-su làm Cứu Chúa của mình. Tiếc thay giữa cảnh tranh tối tranh sáng của dòng đời ngang trái, mà nhiều khi mảng tối của cuộc sống luôn lấn át ánh sáng của niềm tin,  có người may mắn đã tìm thấy ánh sáng Phúc Âm, như ba vị bác sĩ đã tìm thấy ánh sao năm xưa, có người đang tìm nhưng chưa thấy, có người đã thấy lại bỏ đi, có kẻ bỏ đi rồi lại tìm về, thậm chí nhiều kẻ vẫn mầy mò trong đêm tối trải qua bao năm tháng của cuộc đời ánh sáng soi đường vẫn chỉ là những  đốm lửa nhỏ, chưa một lần tìm được ánh sao.

Thật sự ánh sao đêm thánh vẫn còn đó, vẫn luôn là ngọn đèn soi tỏ bóng đêm, tự thân như một sự mời gọi chúng sinh hãy theo dấu chân của Chúa Hài Đồng tìm về với Đấng Chúa Cha, quay về với những giá trị tâm linh của món quà chung  mà ơn Cứu Rỗi là ân sủng vô giá ban cho từ Thiên Chúa.

Nhân mùa Giáng Sinh năm nay, trong khuôn khổ một trang web khiêm tốn làm một công việc như diễn đàn giao lưu  giữa các tín hữu thân hữu có niềm tin trong Chúa, trong nước cũng như hải ngoại, chúng tôi đại diện nhóm Chủ biên xin kính chúc quí vị cùng gia đình, các hội thánh và điểm nhóm, các mạnh thường quân đã âm thầm hỗ trợ công việc Chúa dưới nhiều hình thức, vui hưởng một Mùa Giáng Sinh an lành trong hồng ân dư dật của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Chúng tôi cũng  không quên xin các tôi tớ cùng con cái Chúa giúp thêm lời cầu nguyện và có những an ủi thiết thực cho những số phận hiện không đủ cơm ăn áo mặc, những người đang chịu cảnh homeless, những người đang ốm đau bệnh tật, những người không có công ăn việc làm hoặc bị layoff, những gia đình đang có sự xào xáo, bạo hành, mất mát, chia ly, những người trong vòng lao lý, những người oan khiên chưa được giải tỏa và nhiều thân phận còn đang gánh chịu những nỗi thống khổ khác, dù muốn dù không vẫn còn xảy ra đâu đó trên hành tinh này, trước mắt là ngay trên quê nhà và quê hương tạm dung của chúng ta.

Nhóm Chủ biên
Tínhữu.net