NHỚ TRƯỜNG CƠ ĐỐC NGÀY NÀO

7:15 PM |

Những năm 1975- 1978 cứ lao động ở rẩy nửa tuần là tôi về lo công việc hội thánh Đất Mới. Đi ngang qua trường lúc nào cũng phảng phất một nỗi buồn hoài niệm. Nhìn những chiếc ghế đá gãy chân xiêu vẹo, cảnh vật tiêu điều, tôi cúi đầu lầm lũi bước đi với bao nhiêu ý tưởng trong lòng.
Học sinh chạy nhảy trên sân trường, bạn bè gặp gỡ nhau ngày ngày ở lớp học đâu hết rồi! Lòng đa cảm đa sầu dễ đâu quên lãng. Còn nữa, cuộc đời dâu bể, lòng người đổi dời…
Cây phượng vĩ do Nguyễn Minh Lâm và các bạn cặm cụi đào đất, chôn cây, nay đã trổ hoa rồi, mà Nguyễn Minh Lâm đâu còn đây để nhìn ngắm thành quả của mình. Hoa quá thắm làm cho lòng tôi cứ mãi thổn thức nhớ bạn bè. Bây giờ nhớ ai, ai có nhớ mình không, hay mãi lo khổ lụy cuộc sống mới, đâu còn thì giờ nhung nhớ…? Mà cũng phải, có nhớ hay không cũng thế thôi. (Tâm sự năm 1980, không phải lúc này).
Mục sư Lê Hựu lúc ấy gởi thư về, có câu: Em sống với hai thời kỳ bây giờ em có cảm nghĩ gì…? Nên tạm viết bài thơ Đường luật này gởi tặng anh.
Nhớ lại chuyện xưa, tôi xin tặng các bạn cựu giáo chức và các em cựu học sinh đang sống đây đó nơi xứ người thưởng lãm…
Phượng đỏ sân trường lác đác rơi,
Người xưa nay đã vắng xa rồi.
Năm năm cảnh đấy còn lưu dấu,
Một thoáng ai kia đã đổi dời…
Hoa thắm: lại càng thêm thổn thức;
Tình sâu: nên cứ mãi bồi hồi.
Nhớ ai, ai nhớ ta chăng nhỉ?
Có nhớ thôi thời cũng thế thôi!
1980
Tiêu Dao Lãng Tử
4- 2013

Các Thầy Cô Ðầu Tiên Của Các Lớp Tiểu Học và Trung Học

Ngày Giám Thị Lương Hà Lên Ðường Về Nhiệm Sở Mới
Cứu Trợ Nạn Lụt 22-11-1970
Văn nghệ
 
From: Quỳnh Bích Châu , em thầy Đinh Hữu Quyến dạy Pháp văn.
Rất tiếc ảnh không được rõ,nhưng là kỉ niệm nhân dịp bác Hựu dự tất niên lớp 1973
Gửi đến ban tổ chức lễ tưởng niệm mục sư Lê Hựu như một lời tri ân.


Hình chụp chung với Bác Hựu trước khi lên đường đi cứu trợ bão lụt Miềm Trung 1972
From: Phan anh Dũng - Gởi cậu Thi một số tư liệu về Ms Lê Hựu :
- Tập san Khơi Nguồn, Hình bìa là cậu Tăng Tấn Thi vẽ . Tập san Khơi nguồn là tiếng nói của học sinh trường Cơ Đốc do con Phan anh Dũng làm chủ bút trước 30/4/1975.
- Tập san thứ 3 ra ngày 1/11/1974 số đặc biệt viết về Tầm Lộ Đoàn có đăng bài giới thiệu Tầm lộ của MS Lê Hựu, Bác hiệu trưởng trường Cơ Đốc thân yêu.
Bút tích MS Lê Hựu viết về tầm lộ Đoàn.
Tập thơ Tình Ca Mùa Đông - MS Lê Hựu đỡ đầu.  TT.Thi vẽ trang trí
 Trưởng Nguyễn Huỳnh hỏi. - Tầm lộ sinh sẳn sàng lên đường đi cứu trợ chưa ? 








TỪ NGÀY THỨ NHẤT ĐẾN NGÀY SA-BÁT

3:07 PM |
       Tháng 9 năm 1957 tôi vào trường Kinh thánh của Giáo hội Truyền Giáo Cơ Đốc ở Đà nẵng, đến mùa Nô-ên năm ấy bà S. vợ ông hội trưởng đạo diễn cho các học viên trình diễn kịch bản về sự tích Chúa Giê-su giáng sinh, do bà sáng tác và dàn dựng. Trong đêm tổng diễn tập, trong lúc hóa trang, bạn tôi là L.A.T hỏi bà S. : Đạo Sa-bát (tiếng gọi thiếu tôn trọng) là đạo gì vậy bà? Bà trả lời: xấu lắm, xấu lắm, họ tin rằng khi chết linh hồn nằm ở âm phủ…v.v… đó là tà giáo. Tôi ngạc nhiên, trong lòng nghĩ rằng: sao bà là một giáo sĩ mà nói những lời như vậy! Trước đây tôi là tín đồ Cao Đài, nên theo sự dạy dỗ của đạo ấy không nên nói xấu hay mạt sát đạo khác.

Do sự việc đó, khơi dậy tính tò mò của tôi, thế rồi một tối thứ sáu tôi rủ bạn tôi cùng đến nhà thờ Cơ Đốc Phục Lâm ở Đà nẵng. Đêm đó ông Hội trưởng Tổng hội Viễn Đông giảng bằng tiếng Anh qua sự thông dịch tiếng Pháp của ông Hội trưởng Liên hiệp hội Đông Nam Á, Mục sư Nguyễn Văn Xuân dịch qua tiếng Việt. Đêm đó diễn giả đã giảng về sự chết của Chúa Giê-su để chuộc tội cho nhân loại… Tôi ngạc nhiên và tự nhủ: như vậy thì làm sao gọi là tà giáo? Họ có giảng sai tinh thần Giăng 4:2,3 đâu. Khi ra về Mục sư Xuân tặng một số sách nhỏ, trong đó có quyển “Hội thánh nào là thật”, nêu lên lẽ thật ngày Sa-bát. Đem về tra cứu  một thời gian ngắn, tôi tiếp nhận lẽ thật trong lòng. Tôi viết thư liên hệ với ông Hội trưởng Giáo hội ở Sài gòn tỏ bày sự nhận định lẽ thật của mình, và xin thêm sách đọc. (Nhưng vẫn tiếp tục học trường Kinh thánh của Giáo hội Truyền giáo Cơ Đốc)

Vì đây là một giáo hội mới và mở rộng, nên cần người đi “vỡ đất mới”, do đó mỗi khóa học 1 năm đưa học viên “ra đồng lúa” thay các bạn cũ về học năm thứ hai. Tôi được đưa đến huyện Hoài ân, tỉnh Bình định, nơi đây chưa có một tín đồ nào. Tự mình đi “khẩn hoang”. Mỗi truyền đạo phải rao giảng cả cho người Kinh lẫn người Thượng du.

Từ ngày nhận lẽ thật ngày Sa-bát, tôi không dùng từ thánh nhật cho ngày thứ nhất nữa.

Ở đây hai năm (1958 và 1959) Chúa cho được 10 người chính thức tiếp nhận Chúa. Đây là một vùng Thiên Chúa giáo rất đông, cũng gặp không ít khó khăn, kể cả dư luận rằng đã có sự bắt bớ của chính quyền ở những nơi khác. Trong hai năm này tôi nhận thấy dân chúng ở đây rất e-dè chính quyền. (Thời kỳ thịnh vượng của chính quyền Ngô Đình Diệm).

Hết kỳ hạn tôi trở về học năm thứ hai. Trong hai năm này tôi vẫn thư từ trao đổi với Mục sư Lê Hựu, vì ông được ông Hội trưởng lúc đó là ông Tilstra giao phó việc này.

Ra trường tôi được đưa đến Cam lộ, Đồng hà, Quảng trị, chuyên rao giảng cho người Kinh. Cùng hầu việc Chúa có ông bà Giáo sĩ Spraget, người Anh, và ở làng trên có ông N.T.Phấn phụ trách miền Thượng.

Tôi lại nhận và viết thư cho Mục sư Lê Hựu để khẳng định niềm tin ngày Sa-bát của mình và trao đổi vài vấn đề khác.

Đầu năm 1962 nhận được thư của Mục sư Lê Hựu báo tin Giáo hội sắp mở một khóa Kinh thánh đào tạo những người tình nguyện đi hầu việc Chúa mới, và khuyên tôi nên quyết định. Nhận được thông báo, tôi viết thư trao đổi và hỏi xem cung cách để được theo học. Theo tập quán của Giáo hội thì những mục sư, truyền đạo hoặc linh mục các giáo phái bạn khi gia nhập Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, thì họ chỉ học một năm để hiểu hết những giáo lý đặc thù mà thôi.

Tôi viết một lá thư xin từ chức truyền đạo gởi Ban Quản Trị của Giáo hội Truyền giáo Cơ Đốc. Nhận được thư từ chức, họ cử ông Hội trưởng người Việt là Mục sư H. T. Nhựt đến gặp tôi để biết rõ lý do từ chức của tôi. Vừa gặp lúc tôi về Đà nẵng thăm nhà tôi đang ở bệnh viện hộ sản, Mục sư H.T. Nhựt gọi tôi đến văn phòng. Ông muốn tôi cho biết lý do từ chức. Vì không muốn phiền lòng, tôi xin lỗi cho tôi miễn trả lời lý do, tôi nói với ông tôi đi vài ngày thôi thì các ông sẽ biết, vì tôi có nói cho người hầu việc Chúa ở nhiệm sở gần tôi biết lý do tôi đi. Mục sư Nhựt đưa ra tiếp ba câu hỏi:

- Tôi nghe nói thầy sẽ viết báo cho một đoàn thể nào đó?

- Tôi nghe nói thầy trở lại đạo Cao Đài?

- Tôi nghe nói thầy sẽ đến với đạo Sa-bát (tiếng thiếu tôn trọng)?

Sau mỗi câu hỏi ông đều giảng cho tôi rất nhiều, đại khái là dùng Kinh thánh khẳng định những việc tôi định làm là không đúng.

Tôi yên lặng và giữ lễ độ đối với bậc thầy.Ông nói xong tôi xin phép thưa: Thưa ông, tôi ra đi có mục đích, nhưng xin ông cho phép tôi được yên lặng, vì vài ngày sau tôi đi, chắc chắn quí ông biết rõ.

Trước khi lên đường, ông Mục sư N.V.Lịch Tổng Thư Ký Giáo hội mời tôi ăn cơm, và tỏ bày: nếu thầy thấy ngoài đó quá khó khăn, chúng tôi chuyển thầy về làm Tuyên úy ở Cô Nhi viện An Hải…(bên kia sông Hàn Đà nẵng).Tôi nói mấy lời cảm ơn và xin lỗi.

Trong thời gian này ông Hội trưởng Tilstra ra thăm Đà nẵng, Mục sư Phạm Thiện theo ý ông Hội trưởng cho người gọi tôi đến gặp. Tôi đến, ông Tilstra nói chuyện với tôi rất lâu, hỏi tôi về niềm tin và nhất là lẽ thật ngày Sa-bát. Ông cho tôi biết sự học tập của các học viên trường Kinh thánh là hoàn toàn tự túc, Giáo hội không có trợ cấp, chỉ tạo điều kiện cho các học viên đi làm ngoài giờ học để nuôi sống mình và đóng học phí.

Ông biết vợ tôi có học về y tế, Giáo hội có bệnh viện, nhưng ông không hứa hẹn điều gì cả, vì việc đó thuộc quyền của Ban Quản đốc Bệnh viện. Tuy nhiên ông cũng có thể trình bày với họ về trường hợp của chúng tôi, việc thu nhận hay không ông chưa biết. Ông khuyến khích tôi, vì đây là khóa học rất thuận lợi cho các học viên.

Ông tỏ ý muốn gặp vợ tôi, bà sinh được 20 ngày, vợ tôi đến, ông hỏi vợ tôi có tin vào ơn cứu rỗi của Chúa Giê-su không? Và  chị tin nhận Chúa khi nào? Nhà tôi trả lời là bà tin nhận Chúa từ trong bụng mẹ… và cha mẹ đang hầu việc Chúa. Ông dặn dò nhà tôi hãy khuyến khích tôi, để tôi có thể tiếp tục học và trở nên một nhà truyền giáo tốt trong tương lai.

Tôi vào Sài gòn, đến gặp Mục sư Lê Hựu, các ông bàn bạc cho gia đình tôi tạm ở trong nhà tiền chế bỏ trống sau nhà thờ Phú Nhuận. Họ cũng báo tin cho biết Bệnh viện Cơ Đốc cũng đã nhận vợ tôi làm điều dưỡng phụ. Tạm ổn định chờ ngày nhập học.

Học xong năm đầu tiên, trong cuộc họp của ban Trị Sự Địa Hạt, Mục sư Lê Hựu nhắc đến việc tôi đã xong năm học, theo qui định cho tôi ra trường để đi truyền đạo. Ban Trị Sự, nhất là hai ông Hội trưởng Tilstra và Đốc học Burton, quyết định cho tôi học đủ cả ba năm. Mục sư Tilstra gọi tôi đến nhà ông, có Mục sư Lê Hựu thông dịch, ông cho tôi biết: thật ra sau khi tôi đến đây, các ông có cho người đến dò hỏi những người quen biết bên Giáo hội Truyền Giáo Cơ Đốc về tôi, và bây giờ sau một năm học, Giáo hội đã quyết định để tôi học tiếp cho đến khi tốt nghiệp. Để tôi an tâm ông báo cho biết Giáo hội sẽ cấp một học bổng hầu tôi có thể tiếp tục chương trình học,  bù lại tôi phải làm việc cho nhà trường Trung Tiểu Học Cơ Đốc Sài gòn 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày.

Thế là tôi tiếp tục học, và rất thích thú đối với tôi là ngoài Kinh thánh ra còn có những môn học mới để mở mang kiến thức như: Lịch sử thế giới, Tâm lý học quần chúng, Sinh vật học, Tiến hóa thuyết hay Tạo hóa thuyết v.v…

Tốt nghiệp xong tôi đi hầu việc Chúa cho đến bây giờ.

Con đường từ ngày thứ nhất đến với lẽ thật ngày Sa-bát là như vậy đó.

Tạ ơn Đức Chúa Trời về sự dẫn dắt tôi từ một chỗ tối tăm đến với ánh sáng của Ngài, và bảo bọc cho tôi qua bao đoạn đường cam go cho mãi đến hôm nay. A-men!
Nguyễn Quốc Thái
Photograph by Thi Tăng

Từ đạo Cao Đài đến với Chúa Giê-su

3:15 AM |
http://hung227.files.wordpress.com/2011/11/tinhque.jpeg
( Thân tặng chị Huỳnh Mai tại Hội thánh El Monte và anh chị em về với Chúa từ Cao Đài )
Nguyễn Quốc Thái.

          Không hiểu sao trong lúc bệnh lần này tôi có ý định viết một bài làm chứng về cuộc đời tin kính của tôi, tôi cảm nhận rằng việc đó, có một chương trình sắp đặt của Đức Chúa Trời từ khi tôi bắt đầu phải tranh đấu cam go cho cuộc hôn nhân của tôi.
         Lúc còn nhỏ, tôi đã từng theo gia đình đi lễ rằm, mùng một hằng tháng đến cúng lễ trong Thánh thất đạo Cao Đài xa hằng 5 đến  7 cây số, đôi chân bé nhỏ đi qua những con đường sỏi đá dưới trời nắng gay gắt; lúc gặp mùa lụt phải lặn lội đi trên chiếc cầu khỉ cheo leo nguy hiểm, vì những suối nước đã ngập… Và cứ thế tôi lớn lên cho đến lúc thiếu niên, vào học một trường tiểu học của đạo. Lớn hơn một chút nữa thì tuyên thệ gia nhập đạo Cao Đài, lời tuyên thệ rất ghê rợn đối với những người thưở đó (thập niên 1940-1950) trong đó có câu  “ … nếu trái lời thì bị ngũ lôi thần hành phạt tại thế”. Đến tuổi thanh niên theo học những lớp giáo lý, giáo luật v.v… cho đến khi tôi thuộc rõ nằm lòng.
          Thời Pháp thuộc các nhà cầm quyền địa phương thường hay xét nhà và gây rắc rối, rồi  đến thời chiến tranh lại bị khốn đốn trăm điều.Tôi được may mắn đọc sách nhiều nên tâm trí được mở mang hơn, tôi liền có sự nghi ngờ những điều mình đã tin nhưng chưa có thái độ gì.
          Trong chiến tranh Việt Pháp tôi ở vùng kháng chiến. Tôi và nhà tôi (vợ tôi) ở cùng xóm, hay đi sinh hoạt thanh niên với nhau, rồi cảm mến nhau nhưng gia đình chưa biết, vì gia đình bên vợ tôi thuộc giáo phái Tin lành, và sự khác tôn giáo đó là rào cản lớn nhất. Từ năm 1952 kéo dài đến 1954, gia đình nhà tôi mới biết được và nhiều việc rắc rối xảy ra. Vì tôi có công tác trong đoàn thanh niên xã, nên đoàn thể đến vận động và đã bị phản đối kịch liệt.
           Trải qua 6 tháng trường thân sinh của vợ tôi tìm đủ mọi mưu kế cách li chúng chúng tôi, có lúc đã xin giấy phép cho nhà tôi về ở với bà ngoại thuộc vùng Pháp chiếm đóng, vì như thế tôi không thể vào vùng ấy được.
      Nhà tôi cho biết tin ấy, tôi tìm cách chận đứng kế hoạch của “ông già vợ” tương lai, nhưng chẳng có cách gì tiến đến hôn nhân. Cuối cùng tôi tìm đến hỏi ý kiến hai người trí thức có Nho học, hai cụ đều có cùng một ý kiến. Trong binh pháp có 36 kế, kế thứ 36 là “tẩu”, có nghĩa là bỏ trốn. (Tam thập lục kế dĩ đào vi thượng sách). Thế là tôi kể cho nhà tôi biết ý kiến của hai nhân sĩ, và vận động bà bỏ trốn cùng tôi trong 1 tháng rồi sẽ trở về thì mọi việc đã rồi. Thật ra nhà tôi không dễ nghe theo đâu, nhưng có một điều tôi biết chắc là vì yêu tôi một phần, phần nữa là bị mẹ la mắng hoài, đối xử cay nghiệt… nên bà nghe theo tôi. Chúng tôi đã đến với một anh bạn thân của  anh trai tôi, anh ấy rất thương tôi nên bảo bọc cho chúng tôi. Sau gần một tháng tôi trở về. Lúc này lại nhằm hiệp định đình chiến Geneve ra đời, sau một tháng ông bà gọi chúng tôi đến ngỏ ý rằng: chiến tranh dai dẳng mà còn chấm dứt thì sao việc gia đình lại không thể. Từ đó ông bà khuyên nhủ chúng tôi hãy tiếp nhận Chúa. Tôi chỉ nghe rồi thôi không tiếp nhận lời kêu gọi của ông bà.
          Về nhà chúng tôi tổ chức lại cuộc sống mới cũng tạm ổn, nhưng tình cảm gia đình chẳng tiến triển mà thêm lạt lẽo. Chúng tôi bán hết ruộng trâu đi vào Ninh thuận trồng thuốc lá, cuộc sống dần dần ổn định, lâu lâu được thư gia đình khuyên nhủ. Còn nhờ ông Mục sư N.L.T ở Phan rang đến giảng đạo cho tôi, tôi đã tranh luận gắt gao, họ chán quá bỏ cuộc, tuy vậy thư từ vẫn gởi đến.
          Có một hôm đi làm về, nhà tôi đưa tôi một phong bì, lần này thư dài hơn, báo cho biết ông bà đã đi hầu việc Chúa trong Hội Truyền Giáo Cơ Đốc. (Ông bà trước chiến tranh có học trường Kinh Thánh Tin Lành ở Đà nẵng, nhưng gặp lúc chiến tranh Nhật Pháp nên về nghỉ). Ông bà khuyên chúng tôi về tiếp nhận Chúa, tương lai vào trường Kinh Thánh học. Xem thư xong cũng như mọi khi, tôi để đó và đi ăn cơm, chẳng tỏ thái độ gì. Đêm đó, ngủ đến độ một giờ sáng, đang ngủ say sưa, trong mơ màng nghe như có tiếng rì rầm văng vẳng, càng lúc càng rõ hơn và nghe cả tiếng thổn thức. Lần lần tôi tỉnh ra và biết rằng vợ tôi đang cầu nguyện và khóc thổn thức. Để cho bà cầu nguyện xong nằm xuống, tôi hỏi nếu anh nghe lời cha mẹ trở về, em có vui không? Vợ tôi cười khảy vì bà biết rằng tôi rất cứng đầu, khó có việc đó. Từ đó về sáng tôi không ngủ được, chỉ suy nghĩ, cân nhắc về giáo lý Cao Đài. Cao Đài lý luận rằng: Vạn giáo nhất lý, nghĩa là dù có muôn tôn giáo nhưng chân lý chỉ có một. Chứng minh bằng một ví dụ: một cái lồng đèn 5 cạnh, năm mặt kính khác nhau: đen, đỏ, tím, vàng, xanh. Người nhìn vào mặt kính màu nào thì thấy ngọn đèn màu đó… Các tôn giáo cũng vậy, mỗi tôn giáo khác nhau nhưng chân lý như ngọn đèn ở giữa đều giống nhau, ở đâu cũng nhận được sự cứu rỗi.

          Tôi đem điều này cân nhắc và đi đến một kết luận: Theo lý luận này thì ở Cao Đài, nếu tu thân, tránh ác, theo lành thì ở Cơ Đốc giáo sống như vậy cũng được cứu… tôi suy nghĩ vợ tôi vì thương tôi đành rời cha mẹ để theo tôi, mà vẫn nhớ thương cha mẹ, tại sao tôi cố chấp không trở về để có cả sự cứu rỗi và vợ mình được hòa hợp với gia đình. Sáng ra tôi hỏi ý kiến ông anh tôi, ông ta bác bỏ… 


          Trong thư nhạc phụ tôi có hẹn nếu đồng ý thì cuối tháng về gặp nhau ở Đà nẵng. Lúc bấy giờ ông đang hầu việc Chúa ở Cam lộ Quảng trị. Tôi xuống thị xã đánh điện tín xin phép cho suy nghĩ 15 ngày sẽ có tin trả lời. Tôi tiếp tục vừa đi làm vừa suy nghĩ, chỉ một tuần thôi tôi thấy lý luận mình là đúng và quyết định về nhà, sau đó gởi điện tín báo sẽ về y hẹn.
          Khi chúng tôi về gặp lại gia đình, cả nhà ôm vợ tôi khóc lóc trong mừng rỡ, (1 năm cách trở) xem như chúng tôi là chàng con trai hoang đàng trong Kinh thánh.
          Tôi bắt đầu học cầu nguyện, học tín điều, học mục lục để biết giở Kinh thánh v.v… Tám tháng sau tôi được nhận vào trường Kinh thánh. Ban giám đốc trao cho mỗi người một tờ giấy và tự viết những ý tưởng vào đó. Tôi viết vào đó quan điểm của tôi mọi mặt, kể ra những tính xấu, cũng kể ra cả việc lấy vợ của mình v.v… Ông hiệu trưởng nói với nhạc phụ tôi: thằng rể của ông tái sinh rồi, ông già vợ mừng lắm kể lại tôi nghe. Trong lớp học là những thanh niên tuổi đạo nhiều năm, tôi mới 8 tháng, tôi phải nổ lực để học, tháng đầu rất lận đận, sau đó tôi bắt kịp họ…
          Học được bốn tháng, vào những ngày thứ bảy trường cho học viên nghỉ ngơi và dạo chơi, một thứ bảy nọ trong khi anh em đi hết tôi ở nhà một mình học bài… khi đọc đến lời cầu nguyện của Chúa Giê-su rất quen thuộc lúc bị đóng đinh: “Xin Cha tha tội cho họ vì họ làm điều mà mình không biết”, nhưng  khi đọc lần này tôi cảm thấy hai bên thái dương của mình tê tái, lòng thì xúc  động… vì bổng nhiên nhận ra chỉ có tình yêu vĩ đại mới có thể cầu nguyện cho kể đã giết mình ngay lúc sắp lìa đời.
          Xúc động, tôi quì gối xuống cầu nguyện tiếp nhận Chúa… Thế là từ trước đến lúc đó, kể cả sau khi chịu báp têm, tôi vẫn giữ quan niệm Chúa Giê-su là một giáo chủ  như Thích ca, Khổng tử v.v…và lúc bấy giờ tôi mới cảm nhận Chúa là Đấng Cứu Chuộc duy nhất.
          Tôi cảm nhận rằng Chúa đã sắp xếp chương trình của Ngài để cứu tôi từ khi tôi bắt đầu yêu vợ tôi. Thật ra đã có lần tôi quyết định bỏ cuộc và đã viết thư “đoạn tuyệt”, vì tôi biết rằng khi yêu nhà tôi thì sẽ bị chống đối và gặp vô vàn khó khăn, nhưng sau đó vì vợ tôi quá yêu tôi nên chúng tôi bỏ ý định chia tay.
          Tôi xin chia xẻ lời chứng này cho hết thảy con cái Chúa. Cầu xin Chúa cảm động hết thảy những ai khi đọc bài chứng này mà cảm nhận mình chưa tin Chúa thật sự.


Nguyễn Quốc Thái.

(Bài chứng sắp đến: Từ ngày thứ nhất đến ngày Sa-bát).