NHƯ CON CHIM TRÊN RỪNG

9:16 AM |


từ khi sinh ra đời
đến khi rời cõi tạm
ai cũng đều trải qua
những tháng ngày vất vả

cứ như bà cụ Xinh
sống đã trên trăm tuổi
hỏi bí quyết sống lâu
bà trả lời...  đâu có

bà vẫn ngày ru cháu
sáng dắt trâu ra đồng
chiều lên nương tẻ bắp
tối lo phụ việc nhà

bà bảo muốn sống lâu
đừng để lòng lấn cấn
đừng để hồn vướng bận
vào những chuyện...  không đâu   

cứ sống cốt thỏa lòng
có gì thì ăn nấy
như con chim trên rừng
như bầy dê khe núi

bà còn khuyên con cháu
muốn cho lòng thảnh thơi
mọi sự được an vui
phải biết sống đơn giản

Chúa cho được ngày nào
cứ sống trọn ngày ấy
tuổi xuân ta tận hưởng
tuổi già ta chắt chiu
ngày vui ta giữ lại
ngày buồn cho quên mau

Đỗ xuân Tê
(viết theo lời kể của cụ Hà thị Xinh
107tuổi, quê tỉnh Phú thọ, Việt nam) 

 
   

Đầu năm nói chuyện Yêu thương

11:37 AM |


Năm cũ đã qua, năm mới lại đến. Chu kỳ thời gian vận hành của trời đất vẫn quay đều chừng nào trái đất chưa đến hồi tận thế. Nói theo nghĩa thuộc linh chừng nào Chúa chưa trở lại và mọi  sự trên đất chưa kết thúc theo ý của Thiên Chúa.

Mấy năm trở lại đây, đăc biệt năm vừa qua, thiên hạ nhắc nhiều, suy diễn nhiều về ngày tận thế. Có người tin có kẻ ngờ, nhiều người tỏ ra thờ ơ, nhưng cũng có kẻ bán nhà bán cửa, bỏ công thôi việc, thậm chí bán cả nhà thờ như một ông mục sư Tin lành ở mạn bắc Cali khi ông tin chắc là ngày tận thế sắp đến (với ngày tháng cụ thể) rồi bỏ tiền cùng quyên góp cho một chiến dịch cảnh báo sự kiện này trên toàn nước Mỹ. Theo sở thuế của Mỹ chứng thực có năm ông quyên được cả 20 triệu USD. rồi Chúa vẫn chưa đến, ông sinh bệnh, mất tiền, mất nhà thờ, tín đồ mất chỗ nhóm, báo hại cho nhiều người làm theo ông cả tin vào lời tiên tri hão.

Ấy vậy mà những năm kế tiếp, người ta vẫn còn bày chuyện một ngày ngắn hạn nào đó sẽ có tận thế, một ngày mà trái đất sẽ tiêu tan trần gian xóa sổ. Thật sự chẳng cần suy đoán, ‘ngày đó’ sẽ đến, đến bất thình lình, bất cứ lúc nào, nhưng may thay Kinh thánh đã chỉ rõ chỉ có Đấng Tạo Hóa, Đấng làm ra muôn vật mới biết rõ điều này. Chính Chúa Giê-su Đấng thông hiểu mọi sự cũng còn cảnh báo chỉ có Cha ta ở trên trời mới nắm ngày giờ cụ thể.

Cho nên, là những người có đức tin, chúng ta không tin vào những lời đồn đóan của con người mà chỉ vững tin là Chúa sẽ trở lại và trở lại một ngày không xa dựa theo những dấu hiệu của thời kỳ cuối cùng như các tôi tớ của Chúa thường giảng dạy.

Điều quan trọng là ngày nào còn sống trên thế gian, thì mối quan hệ giữa người với người vẫn là nhân tố thiết yếu và tố chất yêu thương lại càng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày chưa kể giữa những người đồng đạo với nhau. Chính Chúa cũng thường nhắn nhủ con cái của Ngài nên tỏ tình yêu thương lẫn nhau như ‘ta yêu thương các ngươi’.  

Năm nay theo niên lịch là 2013, con số 13 làm tôi liên tưởng đến Chương 13 trong sách 1 Cô-rinh-tô mà tác giả là sứ đồ Phao-lô khi ông viết về ý nghĩa của Tình Yêu Thương, một chương mà sau này các học giả nghiên cứu về Tân ước cho đây là một trong những chưong tuyệt vời nhất củaThánh  kinh.  

Tôi chú ý đến một câu mà sứ đồ đã ví von khi ông lấy ‘đức tin’, một tập quán mang niềm tự hào của người Cơ-đốc để đánh giá thái độ của người tin Chúa , ‘dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chẳng ra gì’’ (câu 2)

Biểu lộ về tình yêu thương không hẳn chỉ bằng môi bằng lưỡi, bằng những cái hôn cái hug theo thói quen thường thấy, mà Phao-lô chỉ thẳng ra bằng một số hình thức cụ thể, trong đó theo tôi mang  tính nhân bản nhất vẫn là ‘có tình yêu thương thì hay làm điều nhân từ và chẳng hề ghen tị’. Nói theo nghĩa thường thì nhân từ là biết thương người và làm điều tử tế, một khi đối xử tử tế thì chẳng còn ghen ghét tị hiềm, một thói xấu mà con người thường vấp phạm từ buổi sáng thế.

Quả thật ghen tị là một thói xấu, phản lại tình yêu thương và tác hại nặng nề đến mối quan hệ giữa người với người, nó tồn tại nhãn tiền ngay trong gia đình cha mẹ con cái, trong họ tộc chú bác cô dì, trong anh em đồng tông đồng sở, trong  bạn bè lối xóm xa gần, trong cộng đồng mỗi  người đang sống, mà  còn đi xa hơn len lỏi vào cả các con cái Chúa trong các hội thánh, mà nếu không ngại  ‘vạch áo cho người xem lưng’, ai cũng có thể chỉ ra các trường hợp cụ thể ở những nơi những chốn một thời họ từng sinh hoạt, bất kể Mỹ hay Việt, trong nước hay hải ngoại, giống dân này hay sắc tộc kia.

Nói cho  ngay, ghen tị là căn bệnh xã hội có di căn từ khi xác lập cộng đồng loài người, biểu thị ngay từ những ngàycó Ê-va và A-đam trên đất. Các gương xấu vì ghen tị đã được thuật lại trong anh em nhà Ca-in, trong đám anh trai nhà Giô-sép mà hậu quả khôn lường mang đến các bi kịch gây thương vong và điêu đứng cho các nạn nhân bị anh em hay người đời ghen ghét.  

Ngày nay, chẳng nói đâu xa ngay trong các hội thánh của mình vấn nạn thiếu tình yêu thưong vẫn còn tồn tại, đa phần do tính ghen ghét tị hiềm từ những điều nhỏ nhặt trong sinh hoạt, chuyện ăn  chuyện uống, quan hệ cá nhân  đến những sự việc nghiêm trọng hơn khi chia rẽ bè nhóm, ngay cả trong công việc tông đồ phục vụ tha nhân, khi sự yếu đuối của con người vốn chỉ muốn cho mình là nhất và quên đi vinh hiển chỉ dành cho Chúa qua những công việc công đức mình làm. Chính thói ghen tị làm mất tình đoàn kết, hiệp một trong con cái Chúa, gây khó xử cho việc điều hành lãnh đạo hộị thánh,mà đôi khi có cả chức viên trong ban trị sự. Có ngưòi đã bỏ hội thánh, thậm chí chính tôi đã được nghe lời than thở của một nữ tín đồ vùng tôi ở khi cô phàn nàn mối quan hệ soi mói của những người chị em của mình mà phải thốt ra, ‘họ ác lắm bác ơi!’.

Đầu năm tản mạn chuyện yêu thương mà người viết cứ như muốn phơi bày mấy cái tiêu cực trong sinh hoạt hội thánh, trong quan hệ cộng đồng. Quả thật chẳng ai muốn làm như vậy, nếu có viết ra thì cũng chỉ là nói hộ cho nhiều người và cũng là dịp để chính tôi, một kẻ bất toàn nghiệm lại bản thân mình có vấp phạm đâu đó trong cuộc đời tin kính dù một lần hay nhiều lần, vô tình hay hữu ý.

Đạo của Chúa cốt lõi vẫn là ơn cứu rỗi, ai đã tin và theo Chúa đều hiểu điều này. Đức tin là quan trọng, sự trông cậy là thiết yếu, ấy vậy mà Phao-lô khi so sánh với tình yêu thương, ông vẫn cho là ‘trong ba điều ấy tình yêu thương vẫn là trội (trọng) hơn cả’.

Nhớ lại khi đi tù cải tạo, tôi ở chung với một vị sư già. Thầy là giám đốc tuyên  úy Phật giáo trong quân đội miền Nam và có quan hê quen biết với gia đình tôi. Có lần thầy hỏi tôi, bà cụ anh còn đi chùa không, tôi trả lời bà cụ con đã mất, rồi tiện dịp tôi thưa với thầy gia đình ở nhà vơ và các con đã tin Chúa. Lý do làm sao tôi cũng kể sơ qua. Nghe xong, thầy chỉ nói, “Thế cũng được, giáo lý của Chúa Giê-su về nhân từ bác ái cũng sâu lắm.” Rồi như để tôi đỡ bối rối, thầy quay sang chuyện khác. Tôi cứ nhớ lời thầy và  coi như lời chứng, rồi tìm hiểu về Kinh Thánh, khi ra trại theo gương vợ con, từng bước tôi trở thành tín đồ Cơ-đốc.


Cali, ngày đầu năm

Đỗ xuân Thảo



Xuân về nhớ một bài hát

11:04 PM |
Đỗ Xuân Tê

Trong công trình sáng tác đồ sộ hơn 50 năm của một nhạc sĩ hải ngoại, gồm trên 200 ca khúc, phải nói Nhật Ngân là người hay viết những bài ca về mùa xuân mà nội dung thế nào cũng nói đến cái Tết cổ truyền của dân tộc Việt, một tập tục gợi nhớ những ngày xuân khi đất trời giao hòa nhà nhà xum họp mừng vui cho cuộc sống bước vào năm mới.
Một trong những bài hát được quần chúng hâm mộ nhất là bài Xuân này con không về và thực sự bài này đã đi vào huyền thoại. Ca khúc một thời không chỉ được hát để thể hiện tâm tư của những anh lính xa nhà vì hoàn cảnh chiến tranh không thể về thăm mẹ thăm em vui xuân với bà con chòm xóm như những tháng năm thanh bình thuở trước, mà bài hát còn theo chân những người con tha hương sau chiến tranh dắt díu nhau ra hải ngoại để rồi mỗi khi tết đến xuân về lại nức nở sụt xùi  nhớ mẹ nhớ em trong  phút giao thừa khói hương lan tỏa.
Bài hát đã để lại dấu ấn khá đậm đà trong lòng những người xa xứ khi thế hệ thứ hai ở hải ngoại vẫn còn biết nghe hoặc biết hát trong các dịp họp mặt  mừng Xuân tìm về tình tự dân tộc của những người con mang dòng máu Việt. Chẳng thế mà nơi vùng tôi ở, một hội thánh CĐPL  tuy nhỏ nhưng mỗi năm khi tổ chức văn nghệ Tết cho tín hữu và bà con cộng đồng người Việt tại đia phương, thiếu gì thì thiếu nhưng không thể thiếu bài ca huyền thoại này.
Lại càng vui khi tại quê nhà bài hát tuy không cho phép chính thức nhưng vẫn được quần chúng thính giả sau chiến tranh công khai xử dụng và cùng nhau chia sẻ mỗi khi đất trời vào xuân. Nói cho ngay, bài hát mang sắc thái phi chính trị như nói hộ nhiều điều thể hiện niềm thương nỗi nhớ cho bất cứ thân phận nào do hoàn cảnh vì cuộc sống vì sinh kế phải xa quê xa gia đình, cuối năm không thể về thăm cha thăm mẹ để sưởi ấm lại tình thương, để cùng nhau nhâm nhi chút mứt gừng, ăn chút bánh tét bánh chưng trong ba ngày tết, có gần thì cũng kẻ trong nam người ngoài bắc, người thành thị kẻ dưới quê, còn xa thì tận mãi đông Âu, xứ Nga, xứ Hàn, Đài loan, Campuchia, Lào, Thái…, chưa kể dòng người gốc Việt xuất dương di tản sau chiến tranh đang sinh sống khắp năm châu bốn bể.
Là người làm công tác văn nghệ  cùng ngành với Nhật Ngân khi anh bị động viên vào quân ngũ, tôi chưa thấy bài hát nào được thính giả yêu cầu hát nhiều lần trong mỗi dịp xuân về trên làn sóng phát thanh truyền hình miền nam,  trên các sân khấu ca nhạc lớn nhỏ, trong các chuyến lưu diễn nơi tiền đồn, xã ấp, rồi các đơn vị đóng quân nơi rừng sâu núi thẳm, hải đảo xa xôi, các tụ điểm bến xe bến phà nhà ga sân bay bến cảng, nói chung từ tiền tuyến đến hậu phương, từ làng quê lên phố thị đâu đâu cũng nghe văng vẳng tiếng hát của các nghệ sĩ nổi tiếng một thời trong đó phải kể ca sĩ Duy Khánh, người thể hiện thành công nhất bài hát này, đặc biệt vào những chiều cuối năm lan tỏa sang những ngày đầu xuân. Có điều trớ trêu là xuân về thì chỉ mong xum vầy đoàn tụ, vợ trẻ mong chồng, mẹ già mong con, con thơ ngóng bố, em gái hậu phương trông anh trai tiền tuyến, người yêu quê nhà chờ bạn tình xa…ai lại đi hát đi nghe những ca khúc nội dung chia phôi lỗi hẹn vào những giây phút đã không vui mà nuớc mắt lại trào?
Nhưng rồi ra ai cũng hiểu khi đất nuớc còn chiến tranh quê hương còn khói lửa thì mấy ai, mấy gia đình hưởng trọn được niềm vui?  Cho nên Nhật Ngân như hiểu được tâm trạng này nên anh đã viết lên ca khúc mà âm điệu thì lắng sâu ray rứt, ca từ thì mộc mạc chân quê, ai hát cũng được ai nghe cũng mủi lòng. Tôi nhớ một lần đi lưu diễn bên Lào và Thái lan đầu thập niên ’70,  hồi ấy chưa có chuyện di tản vượt biên hay lao động xuất khẩu, mà khán giả chỉ là những bà con mình tha phương cầu thực trên đất khách, nhiều người đã khóc khi nghe hai bài hát Đêm Đông và Xuân này con không về. Cho đến nay dù bốn mươi năm đã qua, nhưng bài hát vẫn được hát và cảm xúc thì chẳng bao giờ vơi đối với những thân phận xa quê mỗi dịp xuân về.
Nhớ lại bài hát của Nhật Ngân, ta cũng lại đồng cảm với tâm trạng của người nhạc sĩ tài hơa  không chỉ viết về mùa xuân này, một mùa xuân dành cho những nhân thân nơi cõi tạm quê nhờ, mà thực sự anh luôn mơ tới một  mùa xuân vĩnh cửu, nơi không còn ghen ghét hận thù, nơi chẳng còn sinh ly tử biệt, một  chốn bình yên một ‘thiên đường này anh mơ ước bao lâu’ như chính anh đã viết trong bài Một mai giã từ vũ khí, ngẫu nhiên trùng hợp với  ước vọng của những người có đức tin khi mơ về nơi trời mới đất mới, nơi Đức Chúa Trời sẽ ở giữa loài người, Ngài sẽ lau ráo hết  nước mắt cho chúng sinh, sẽ không có sự chết, cũng chẳng còn than khóc, đau đớn nữa (Khải Huyền 21: 4).
Qua  sự nghiệp sáng tác, nhiều người tưởng Nhật Ngân là chàng trai xứ Huế, nhưng biết anh, tôi xin được bổ sung thêm về quê quán của anh, mà cũng là tác giả bài Tôi đưa em sang sông,  anh gốc người Thanh hoá, có sống ở Huế một thời gian không lâu, nhưng gắn bó nhất với thời trai trẻ vẫn là quê hương Quảng nam-Đà nẵng, một vùng đất anh luôn ôm ấp như chính những người con xứ Quảng cũng nhiệt tình đón nhận thương mến anh, và nếu nghe lại bài ca, ‘Quảng nam quê ta ơi’ anh sáng tác riêng cho vùng đất địa linh nhân kiệt này thì mới hiểu hết tình quê xứ Quảng nơi anh.

Đỗ Xuân Tê



Chân dung một tín đồ Cơ Đốc tôi quen

8:40 PM |
Đỗ xuân Tê

Lời người viết: Nhân dịp trang web CHSCĐ có số khách viếng đạt con số 10.000 chỉ trong vòng 6 tháng, tác giả xin gởi đăng truyện ngắn này như một lời chào mừng. Truyện này cũng đã đăng trên Việt Báo (giúp tác giả nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ năm 2008 dưới bút hiệu Xuân Đỗ) với tựa đề, ‘Chân dung một người Mỹ tốt bụng’ và được gần 30.000 lượt độc giả vô đọc, nay hiệu đính dưới hình thức truyện ngắn Cơ đốc cho phù hợp với trang nhà.

Có một điều ông ân hận là chưa đặt chân lên đất Saìgon, chưa có dịp tham quan thắng cảnh Việt nam, mặc dầu biết Việt nam từ khi ông còn rất trẻ. Sống kiếp hải hồ từ khi học hết trung học, bị hụt đi tu, ông đăng ký Hải quân. Rời California, chiến hạm của ông được điều về vùng biển Thái bình dương nằm trong phạm vi hoạt động của Hạm đội 7.
Kịp lúc chiến trường Việt nam sôi động, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ vào Đà nẵng thì tàu của ông được phái đến Biển Đông, ngoài khơi thành phố Đà nẵng, chuyên lo phần tiếp liệu, kể cả yểm trợ hải pháo cho các cánh quân bạn dọc từ Hải lăng đổ vào.
Ông tự thân không thích chiến tranh, đi Hải quân cũng chỉ là có dịp đi đây đi đó, ghé lai bến nọ bờ kia, một phần muốn quên đi mối tình đầu dang dở vì mẹ cản không cho vi khác đạo, phần cũng muốn xa cái thị trấn nông trang vùng San Luis Obispo, miền Trung California, nơi mà tuổi thơ của ông đã bị khép kín trong một gia đình đông con, với nếp sống nông trại buồn tẻ, chưa kể phải chịu sự dạy dỗ có phần khuôn phép, bảo thủ của một bà mẹ có dòng đạo gốc.
Ông tên gọi thân mật là Al, hai chữ đầu của Alberto. Cậu AL có một thời thơ ấu không suôn sẻ. Cha mất sớm, mẹ một nách bảy tám đứa con, nên cậu đã bắt đầu phải lao động sớm để giúp gia đình. Cuộc sống nông trại thì đất đai canh tác chỉ hạn chế ở mức gia đình, lề lối thì cũng là sự lặp lại của một truyền thống đã có từ những thế hệ trước, lại sinh hoạt trong một xứ đạo khép kín cho nên nguồn thu nhập cũng ở mức dư dật chút đỉnh.
Cậu bé không tỏ ra ngoan đạo lắm, giúp lễ ở nhà thờ cũng chỉ để làm mẹ vui lòng. Trong tâm tư cậu lại thôi thúc bằng một ước vọng vô hình là muốn tìm một lối khác để được gần gũi với Chúa, đừng quá câu nệ về hình thức, lễ nghi. Mẹ cậu thì vẫn kỳ vọng nơi cậu, bà tin chỉ có cậu mới làm dòng họ hãnh diện khi đi vào con đường phục vụ Chúa và giúp đỡ tha nhân.
Cha mẹ sinh con Trời sinh tính, mẹ thì muốn vậy, nhưng ông lại theo đường ông, theo tiếng gọi của con tim đi yêu một thiếu nữ ngoại đạo. Vì sự ngăn cản của gia đình không lấy được người yêu lại đưa ông vượt ra ngoài vòng cương tỏa của họ tộc khi chọn một lối thờ phượng khác với lễ tục trải qua nhiều thế hệ. Mẹ ông gần như muốn từ ông, chị em sợ mẹ nên né tránh ông, cộng đồng biểu thi lạnh nhạt với ông. Không còn cách nào khác, ông chọn kiếp sống hải hồ bằng cách đi vào đời thủy thủ. Dù trên xứ Mỹ nghe ông thuật lại đời ông, tôi lại nhớ đến chuyện Xóm Đạo của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, khi thấy hai phương trời dù cách biệt, hai văn hóa mang sắc thái đông với tây, nhưng về mặt tín ngưỡng thì hình như không có biên giới, cho nên lề thói gia đình, qui luật xứ đạo của cả Mỹ lẫn Việt hội tụ y chang.
Ông không đi vào con đường tu hành, thì gia đình chẳng còn ai, chỉ có một cô gái út đã vào tu viện và trở thành sister của một dòng nữ tu mạn Bắc. Nghe nói sau này khi tuổi ngoài 40 không hiểu vì lý do gì bà bỏ cuộc sống khép kín, quay về đời thường rồi kết hôn với một cựu binh cấp bậc khá cao. Cuộc sống không lấy gì làm hạnh phúc vì ông này nghiện rượu do ám ảnh của hội chứng chiến tranh Việt Nam. Bà thất vọng định chia tay trở về tu viện, nhưng vừa lúc ông chồng qua đời nên bà ở lại căn nhà chung, sống đời ẩn dật quãng đời còn lại. Những ngày cuối đời hai anh em ông trở thành đồng cảm vì cùng sống xa quê, cùng thoát ly gia đình và bị coi như hai con chiên lạc.
Ông vẫn mải mê với đời hải hồ, nó giúp ông dừng chân nhiều nơi xa xứ lạ. Đi xa ông mới thấy nhiều người quá khổ, nhiều thân phận xấu số, nhiều cảnh đời bên bờ địa ngục, không được sung túc, no ấm như quê ông. Cuộc sống trên boong thì cũng có lúc nhàm chán, qui trình công tác thì một ngày như mọi ngày, chỉ vui khi có cuộc hải trình xa, dừng chân nơi bến lạ, giao lưu với những con người mới, văn hóa mới. Cũng cần nói là nhiệm vụ chính của ông trên tàu là tẩm liệm các thi hài lính Mỹ hi sinh tại chiến trường trước khi giao về cho thân nhân họ, ông không biết chọn nghề gì, chẳng ngờ sau này nó là cần câu cơm khi ông xuất ngũ.
Ít năm sau nhớ bờ, ông bỏ đời thủy thủ, xuống phía nam Cali kiếm việc. Tình cờ ông được một mục sư Cơ Đốc giới thiệu cho vào làm tại một trường Đại học Y khoa, chuyên lo chăm sóc bảo trì các tử thi để sinh viên sử dụng cho môn cơ thể học. Ông đã bỏ đạo cũ, theo đạo mới, tuy cùng theo một Chúa, cùng thờ một Đấng Chí Cao. Ông đi nhà thờ đều đặn, an phận với công việc, để nhiều thời gian với người chết hơn với người sống nếu không kể số giờ phải nghỉ ngơi.
Lúc này cảm thấy lòng mình trống trải, nên qua môi trường sinh hoạt nhà thờ, ông làm quen với một đồng nghiệp trong trường. Hai người cùng độc thân, bà khoảng trên 50, ông kém bà vài tuổi, hai người nếu tính theo sức học, sở thích, tính nết và lịch sử gia đình thì nghe chừng không hạp, nhưng họ tìm đến nhau trong tình đồng đạo tuy muộn màng nhưng thành tri kỷ gắn bó với nhau gần một phần tư thế kỷ.
Bà vợ ông không phải người Cali, mà gốc vùng Midwest. Bà là con gái duy nhất trong một gia đình mục sư theo đạo Cơ Đốc Phục Lâm, suốt thời niên thiếu theo cha làm công tác truyền giáo tại Peru, một vùng đất tận miền Nam Mỹ. Bà thạo tiếng Spanish, sau khi tốt nghiệp đại học, bà làm cô giáo dạy tiếng Anh cho giáo dân địa phương. Khi ông cụ mất, bà theo mẹ về lại Mỹ, học tiếp ngành quản trị kinh doanh và nhận một công tác kế toán cho trường đại học nơi ông cùng làm việc. Có thì giờ rảnh bà học thêm lấy được cấp bằng MBA nên lương cũng khá.
Hai ông bà không có con, cũng chẳng nhận con nuôi, chỉ có một con chó (cho ông) và con mèo (cho bà) để làm vui ngoài tình tương kính yêu thương giữa hai người. Ấy vậy mà trong cuộc sống họ rất hạp nhau. Ông cũng chẳng mặc cảm vì sở học của mình kém bà, còn bà cũng chẳng ngại kiểu ăn nói có phần bá láp của ông mỗi khi đi đâu. Tức cười là khi sinh hoạt, bạn bè của bà phần nhiều là các giảng sư, giảng viên, nhưng sự có mặt của ông với lối noí chuyện kiểu thủy thủ làm các ông các bà cười ngất, nên chỗ nào có ông là vui, thiếu ông là người ta nhắc.
Có người hỏi rồi ông có quay về San Obispo không, câu trả lời là có. Quê hương là chùm khế ngọt ai mà bỏ được, nhất là đối với người Mỹ hometown luôn là niềm hãnh diện vì là nơi họ đã sanh ra và lớn lên. Với người Việt mình thì Đông Tây gặp nhau ở chỗ này. Nhưng ông trở lại bằng cách nào. Lúc mẹ ông sắp mất, bà biểu cô chị cả gọi ông về, thật sự tình mẫu tử ai bỏ được con, giận thì giận vậy thôi. Các anh em của ông, có người đã lập gia đình có con rồi có cháu vẫn sống quây quần nơi mảnh đất của cha ông từ thời mới di dân, trừ người em gái út nữ tu đi ở xa.
Ít năm sau ông nghỉ hưu, bà thì nhà trường còn cần nên vẫn tiếp tục công việc. Vốn quen lao động chân tay, lại không muốn ở không, ông mở một dịch vụ nhỏ, chuyên sửa giầy dép các lơai. cho cả nam lẫn nữ bên Redlands. Nghề tay trái này ông học của ông nội khi còn ở nông trại. Tiệm của ông khá đông khách, tuy chỉ là khách địa phương, người Mỹ họ quí mấy đôi giầy đóng theo ni tấc vừa bền vừa hạp với chân nên thích sửa, nhất là dân trên vùng Big Bear và sa mạc Mojave, có người lái cả bảy tám  chục miles đưa giầy cho ông sửa.
Coi vậy ngồi hoài cũng mệt, tay búa tay kim mãi cũng nhức vai, tuổi tác có hạn chế nhất định, ông đi vào nghỉ hưu thực sự. Chẳng cần sang nhượng, ông để luôn cái tiệm cho một phụ tá giúp việc ông từ mấy năm nay. Anh này người Việt nam gốc Campuchia, cùng sinh hoạt trong nhà thờ được ông bà coi như con nuôi.
Giã từ với nghề nghiệp giờ là lúc muốn hưởng một chút cho thân nó nhàn, ông bà quay sang du lịch. Trong nước trước, ngoài nước sau, chỉ tiêu trước mắt là đi khắp 50 tiểu bang của Mỹ, tất nhiên kể cả Cali vì còn nhiều cảnh đẹp vẫn chưa đi tới. Phương tiện thì nhất định không đi máy bay, chỉ bằng phương tiện R.V. (loại xe đi xa tiện cho ngủ nghỉ trên xe). Năm 2000 mở đầu thiên niên mới cũng là lúc hoàn thành chỉ tiêu. Bang cuối cùng là Alaska, ông phải lái xe đi ngang địa phận phía tây của Canada.
Nói về chuyện tiền bạc, ông bà không phải là người ít tiền, tiền hưu, tiền để dành, tiền lời dịch vụ, tiền tích lũy mua căn nhà mới, nhưng trong chi tiêu lại rất tiết kiệm, không quá rộng rãi như người ta tưởng. Con cái chẳng có, chẳng phải nuôi ai thêm, chẳng phải lo cho con vào đại học, ngân sách gia đình chỉ tốn nhiều cho các lần du lịch xuyên bang.
Nhưng ông bà không phải chỉ sống cho riêng mình, mà còn đóng thuế cho chánh phủ, đóng góp cho cộng đồng, lại dâng hiến cho nhà thờ, giúp công tác từ thiện, ủng hộ quĩ trường học, chưa kể hay giúp đỡ bằng hiện kim hay đồ gia dụng cho các di dân từ xa đến theo truyền thống lâu đời của người Mỹ.
Nói về giúp đỡ di dân không hiểu sao ông bà hay có cảm tình với sắc dân gốc Á châu nhất là hai chủng tộc gốc Tàu và Việt nam, theo tôi đoán có lẽ hồi trẻ ông hay ta bà vùng venThái bình dương. Trước khi gia đình tôi sang định cư tại Mỹ, thì nhà bà đã có hai chị em người Mã lai gốc Hoa được cho ở nhờ khi họ sang du học tại đây. Họ tìm cách ở lại trong hợp pháp, rồi ra ở riêng sau khi lập gia đình. Một sinh viên Đại hàn thế vào chỗ họ, nhà ông bà lúc nào cũng có người lạ còn ông bà chỉ ở một phòng.
Căn nhà đang ở là của bố bà xây cất từ đầu 60. Vì ông cụ là mục sư nên trong di chúc có ghi sẽ dâng căn nhà này cho giáo hội sau khi con gái của ông mất đi. Di chúc không nói gì đến đời cháu, kể cả người phối ngẫu. Cho nên lúc cuối đời, ông đã phải mua phòng hờ một căn nhà khác nhỏ hơn trường hợp bà chết trước. Chiếc R.V. lúc nào cũng đậu sát garage, mấy lúc sau này khó ngủ nên hay đọc sách khuya, ông sử dụng nó như phương tiện sinh hoạt riêng, vì vậy mà ông đã bị trợt té khi bước hụt lúc xuống thang để vào nhà.
                    ****
Gia đình tôi định cư tại vùng ông bà ở vào đầu thập niên 90 sau khi được chánh phủ Mỹ nhận qua một chương trình tị nạn dành cho các cựu tù cải tạo. Do học chung trườngvới hai cô gái người Mã, bạn thân của con gái tôi đã giới thiệu gia đình tôi với ông bà. Biết chúng tôi từ Việt nam sang, ông có cảm tình ngay vì những ký ức liên hệ một thời với đất nước tôi hồi chiến tranh, nhưng lại chưa một lần đặt chân lên đất. Dần dần quen thân, ông bà coi con gái tôi như hai cô gái kia, đối xử trong tình đồng đạo, thương mến như con.
Lại nghe chuyện của tôi cải tạo trên 12 năm, vợ con một thời nheo nhóc ông bà càng quí mến hơn. Qua giao tiếp, tôi thấy khi nhắc tới Việt nam, có hai từ ông phát âm rất sõi là Saigòn và... Việt cộng. Nói đến Saigòn vì các bạn ông khen con gái ở thành phố này rất đẹp so với các cảng họ từng ghé qua, còn Việt cộng thì ông khâm phục vì họ đánh giặc gìỏi, nhất là trận địa Khe Sanh gây tổn thất nặng cho TQLC Mỹ lúc tàu ông đang đậu ngoài khơi Quảng trị lo yểm trợ tiếp vận cho chiến dịch.
Ấn tượng này ông vẫn giữ nguyên cho đến khi gặp tôi thì niềm cảm phục biến thành nỗi khinh bỉ, vì với tư cách cựu binh, ông không hiểu sao họ có thể đối xử với những người ngã ngựa vừa là đồng loại một cách tàn tệ như vậy khi tàn cuộc chiến! Sau này khi tình bạn kết thân, mỗi lần ông định rủ tôi đi đâu, tôi không đi, hoặc nhờ tôi một việc công ích mà tôi quên chưa làm thì ông hay dọa vui, "tao gửi mày về cho VC bây giờ", dù dọa vui nhưng lại có ép phê mới lạ.
Phần tôi chưa có người Mỹ nào tôi cảm thấy gần gũi thoải mái trong quan hệ thân tình bằng ông AL. Ông có kiểu xử sự xuề xòa tự nhiên như người Nam bộ (dĩ nhiên trước thời thập niên 60). Tôi với ông không có khoảng cách, gặp nhau tay bắt mặt mừng, tay ôm eo ông, noí chuyện theo kiểu tầm phào ngay từ phút đầu. Có điều ông không uống ruợu, cũng chẳng uống bia, không nghiền thuốc lá, chẳng biết uống trà nên anh em cũng khó lai rai ba sợi, được cái  ông lại thích phở bò, chả giò, nem cuốn, không chê nước mắm mà ưa cả cơm chiên cá nướng theo kiểu nấu nướng của  người Việt mình.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất là có lần ông rủ tôi sang Mễ, tiện thể ông đi chích một mũi thuốc giảm đau nhức cho cái vai của ông. Sáu tháng chỉ cần chích một mũi, bác sĩ Mỹ không dám làm chuyện này nên ông phải đi Mễ. Đã giao hẹn từ đầu là tôi sẽ đóng vai một anh cận vệ (bodyguard), vì tôi giống Đại hàn, mắt một mí, tướng người có vẻ biết võ. Còn ông cứ coi như một ‘big boss’ không biết làm trong ngành gì, chỉ biết tướng ông cũng đô con, dáng cao đẹp nói làm nhỏ không ai tin. Ông nói đùa với tôi, lâu lâu cũng cho tao lên gân một chút, tụi bác sĩ Mễ không phải chỉ nể người Mỹ vì tiền mà nó còn nể hơn nếu biết mày có chức có quyền, nó chữa trị tốt hơn!
Chẳng mất mát gì lại có dịp làm bạn mình vui, nên tôi thủ vai một cách xuất sắc. Chuyến đi lẽ ra vui hơn nếu đừng có chuyện bực mình trước khi vào đất Mễ. Chả là lúc ăn sáng xong ở Indio, ông bà trả bill riêng không tính phần tôi, biết cái tật sòng phẳng của người Mỹ hồi tôi đi Mỹ tu nghiệp từ năm 66, nhưng trong lòng có phần ấm ức vì đã thân quen, sáu bẩy đô  đâu có đáng gì, làm mất tình, lại cứ nghĩ có lúc họ cho con mình cả mấy ngàn đô không tiếc, nay lại tiếc bố nó bữa ăn sáng!
Trở lại chuyện đi Mễ, khám bịnh chích thuốc xong, phái đoàn ra về. Ông vui vẻ ra mặt, vừa hết đau vừa được bác sĩ, nhân viên clinic kính nể vì ít ai mang theo cận vệ đi khám bác sĩ tại chốn này. Phần ông cũng đóng trọn vai khi nét mặt ra chiều khiêm tốn như không muốn ai biết mình làm... lớn, nhưng suýt lộ bài vì lại giới thiệu rất nhiệt tình về tôi với mọi người ông gặp.
Xe qua biên giới, ông nói nhỏ với viên thanh tra, ‘ông này người Việt nam, cận vệ của tôi.’ Chiếc cần chắn ngang tự động nâng lên, xe chuyển bánh kèm theo cái chào khá lịch sự của người kiểm soát biên giới. Lạ một điều là tôi chẳng cần xuất trình thẻ xanh.
Quay lại Indio cũng cỡ 4 giờ chiều, tôi đang chán vì tưởng sang Mễ được thăm thú cảnh quan ra sao, rút cục thành phố cửa khẩu nằm ngay biên giới, sao chép hệt Mỹ, muốn vào đất Mễ thực sự phải lái thêm 50 miles nữa. Đang ngủ gật, thì xe dừng lại trước quán Sizzler, một loại quán ăn kiểu buffet. Ông bà mời tôi xuống ăn cho vui. Kinh nghiệm hồi sáng, lại biết bà xã ở nhà chờ cơm tôi viện cớ... chưa đói. Ông nói ngay, tụi tao còn đói nữa là mày. Xuống! Lần này vợ chồng tao bao. Tôi làm bộ miễn cưỡng xuống xe. Chưa bao giờ ăn đồ Mỹ ngon như bữa nay, ăn xong mới sực nhớ mình nói với ông chưa đói.
Ngày vui qua mau, người có tình sớm từ giã nhau. Ông ra đi như chuyện tình cờ, giản dị như mơ. Nói về tuổi thọ thì cũng đủ rồi, nhưng vì mến nhau nên chưa muốn ông đi.
Đêm hôm trước ông bị té khi xuống cầu thang của chiếc R.V. Bác sĩ cho biết ông phải giải phẫu thay xương hông. Trước hôm mổ, tôi và bầu đoàn thê tử vào thăm ông, mang theo cả thằng cháu ngoại mà ông rất thích vì nó cũng gọi ông là grandpa. Chuyện trò vui vẻ, chúc ông ca mổ bình an. Thằng cháu hôn ông chúc "Goodnight, Grandpa Al". Ông xúc động ra mặt, tôi biết đêm đó ông ngủ ngon.
Chuyện đời khó đoán, chẳng ai biết chuyện ngày mai, dù chỉ là ngày hôm sau. Ca mổ dự trù 11 giò trưa, định tối vào lại xem sao, thì khoảng 5 giờ chiều được tin ông mất. Chính bà cũng không ngờ, tưởng chuyện mổ xương hông đâu có gì phức tạp, bà lại còn đi ăn trưa rồi mới vô thăm ông. Nên chẳng ai được gặp ông, bà thì như ân hận, chúng tôi phải an ủi mãi không thôi. Về sau được biết ca mổ xấu đi do biến chứng của bệnh suyễn ông nhiễm từ hồi còn trẻ, nhưng thôi cũng là số cả.
Như di chúc để lại, chuyện này ông cũng đã nói cho nhiều người nghe, thân xác ông đồng ý hìến cho trường đại học nơi ông làm việc, gắn bó trong cương vị bé nhỏ của mình mấy chục năm qua. Gia đình ông tôn trọng ước nguyện của ông.
Trong buổi lễ tưởng niệm tại một thánh đường lớn vùng Inland Empire, ông được bạn bè, kể cả số người thân trên San Obispo kéo xuống, dành cho những cảm xúc tiếc thương rất chân tình. Tấm hình được phóng lớn mặc đồ thủy thủ lúc còn trẻ được đặt ở trung tâm. Bà biết ông thích tấm hình này, thường được đặt trên chiếc piano nơi phòng khách. Phần phát biểu, tang quyến dành hết cho bạn bè thân quen.
Ba người đại diện nhóm thọ ơn, một anh con nuôi gốc Campuchia, một cô gái Mã lai gốc Hoa, và tôi đại diện cho một gia đình H.O., vận dụng hết khả năng Anh ngữ của mình để biểu lộ lòng biết ơn chân thành qua lối xưng hô thân mật vừa Daddy, Uncle, vừa Brother tùy vai vế. Người Mỹ có tập quán những buổi lễ như thế này, tuy buồn nhưng nên gợi lại những kỷ niệm dí dỏm, vui vui khi nhớ người đã khuất, nhưng tôi mắt đẫm lệ, giọng nghẹn ngào đã không làm vừa ý người thủy thủ một thời vui kiếp hải hồ trên Biển Đông giáp bờ quê hương tôi. Sau buổi lễ, mấy chị em ruột của ông đến gặp tôi bày tỏ những cảm tình coi nhau như tình huynh đệ, họ cảm nhận đươc mức độ tôi quí mến ông. Tôi cũng gặp riêng bà nữ tu, em gái út của ông để trao đổi những gì ông tâm sự với tôi về bà, bà tỏ vẻ xúc động. Nét mặt bà còn phảng phất nét đẹp của một thời son trẻ nhưng vẻ sầu muộn hiện rõ trên đôi mắt.
Nhớ lúc sinh thời, ý nguyện của ông là sau khi đi hết 50 tiểu bang, ông bà sẽ làm một cuộc du lịch qua hai xứ, một chuyến qua Việt nam, một chuyến về Peru, nơi mà mỗi người có những kỷ niệm khó quên thuở thiếu thời. Ông sẽ đi với tôi qua Việt nam, ông sẽ đi với bà qua Peru. Cả hai cuộc đi đều không thực hiên được. Tôi có một phần lỗi vì trước đó ít năm (khoảng 98,99) ông có gợi ý chúng tôi cùng đi, nhưng tôi e ngại vì một anh cựu tù cải tạo dẫn một ông Mỹ cựu binh lang thang chỉ trỏ trên cảng Saigòn chắc không tránh khỏi con mắt tò mò của đám công an. Bây giờ là lúc thuận lợi cho chuyến đi thì ông lại bỏ đi sang bến khác.
Có điều an ủi là mọi người biết ông ra đi trong thanh thản và tin chắc rằng ông đã ghé bến bình an. Chúng tôi nhớ ông như một người bạn lúc sống thì chan hòa đằm thắm, thích giúp tha nhân, khi chết thì thân xác hiến cho khoa học, tiền cũng đem dâng, nhà đem hiến. Ra đời trần truồng, ra đi tay trắng, không mộ phần, không kỷ niệm chương, chẳng để lại dấu vết gì của một kiếp người trên đất.
Ông có để lại, thực sự ông có để lại cái tình, một chữ tình viết hoa, một di sản của những con người tốt bụng, mà những người còn sống, trong đó có gia đình tôi, không thể nào quên.

Đỗ Xuân Tê
(Mùa Thanksgiving 2012)


Chân dung một tín đồ Cơ Đốc tôi quen

8:40 PM |
Đỗ xuân Tê

Lời người viết: Nhân dịp trang web CHSCĐ có số khách viếng đạt con số 10.000 chỉ trong vòng 6 tháng, tác giả xin gởi đăng truyện ngắn này như một lời chào mừng. Truyện này cũng đã đăng trên Việt Báo (giúp tác giả nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ năm 2008 dưới bút hiệu Xuân Đỗ) với tựa đề, ‘Chân dung một người Mỹ tốt bụng’ và được gần 30.000 lượt độc giả vô đọc, nay hiệu đính dưới hình thức truyện ngắn Cơ đốc cho phù hợp với trang nhà.

Có một điều ông ân hận là chưa đặt chân lên đất Saìgon, chưa có dịp tham quan thắng cảnh Việt nam, mặc dầu biết Việt nam từ khi ông còn rất trẻ. Sống kiếp hải hồ từ khi học hết trung học, bị hụt đi tu, ông đăng ký Hải quân. Rời California, chiến hạm của ông được điều về vùng biển Thái bình dương nằm trong phạm vi hoạt động của Hạm đội 7.
Kịp lúc chiến trường Việt nam sôi động, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ vào Đà nẵng thì tàu của ông được phái đến Biển Đông, ngoài khơi thành phố Đà nẵng, chuyên lo phần tiếp liệu, kể cả yểm trợ hải pháo cho các cánh quân bạn dọc từ Hải lăng đổ vào.
Ông tự thân không thích chiến tranh, đi Hải quân cũng chỉ là có dịp đi đây đi đó, ghé lai bến nọ bờ kia, một phần muốn quên đi mối tình đầu dang dở vì mẹ cản không cho vi khác đạo, phần cũng muốn xa cái thị trấn nông trang vùng San Luis Obispo, miền Trung California, nơi mà tuổi thơ của ông đã bị khép kín trong một gia đình đông con, với nếp sống nông trại buồn tẻ, chưa kể phải chịu sự dạy dỗ có phần khuôn phép, bảo thủ của một bà mẹ có dòng đạo gốc.
Ông tên gọi thân mật là Al, hai chữ đầu của Alberto. Cậu AL có một thời thơ ấu không suôn sẻ. Cha mất sớm, mẹ một nách bảy tám đứa con, nên cậu đã bắt đầu phải lao động sớm để giúp gia đình. Cuộc sống nông trại thì đất đai canh tác chỉ hạn chế ở mức gia đình, lề lối thì cũng là sự lặp lại của một truyền thống đã có từ những thế hệ trước, lại sinh hoạt trong một xứ đạo khép kín cho nên nguồn thu nhập cũng ở mức dư dật chút đỉnh.
Cậu bé không tỏ ra ngoan đạo lắm, giúp lễ ở nhà thờ cũng chỉ để làm mẹ vui lòng. Trong tâm tư cậu lại thôi thúc bằng một ước vọng vô hình là muốn tìm một lối khác để được gần gũi với Chúa, đừng quá câu nệ về hình thức, lễ nghi. Mẹ cậu thì vẫn kỳ vọng nơi cậu, bà tin chỉ có cậu mới làm dòng họ hãnh diện khi đi vào con đường phục vụ Chúa và giúp đỡ tha nhân.
Cha mẹ sinh con Trời sinh tính, mẹ thì muốn vậy, nhưng ông lại theo đường ông, theo tiếng gọi của con tim đi yêu một thiếu nữ ngoại đạo. Vì sự ngăn cản của gia đình không lấy được người yêu lại đưa ông vượt ra ngoài vòng cương tỏa của họ tộc khi chọn một lối thờ phượng khác với lễ tục trải qua nhiều thế hệ. Mẹ ông gần như muốn từ ông, chị em sợ mẹ nên né tránh ông, cộng đồng biểu thi lạnh nhạt với ông. Không còn cách nào khác, ông chọn kiếp sống hải hồ bằng cách đi vào đời thủy thủ. Dù trên xứ Mỹ nghe ông thuật lại đời ông, tôi lại nhớ đến chuyện Xóm Đạo của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, khi thấy hai phương trời dù cách biệt, hai văn hóa mang sắc thái đông với tây, nhưng về mặt tín ngưỡng thì hình như không có biên giới, cho nên lề thói gia đình, qui luật xứ đạo của cả Mỹ lẫn Việt hội tụ y chang.
Ông không đi vào con đường tu hành, thì gia đình chẳng còn ai, chỉ có một cô gái út đã vào tu viện và trở thành sister của một dòng nữ tu mạn Bắc. Nghe nói sau này khi tuổi ngoài 40 không hiểu vì lý do gì bà bỏ cuộc sống khép kín, quay về đời thường rồi kết hôn với một cựu binh cấp bậc khá cao. Cuộc sống không lấy gì làm hạnh phúc vì ông này nghiện rượu do ám ảnh của hội chứng chiến tranh Việt Nam. Bà thất vọng định chia tay trở về tu viện, nhưng vừa lúc ông chồng qua đời nên bà ở lại căn nhà chung, sống đời ẩn dật quãng đời còn lại. Những ngày cuối đời hai anh em ông trở thành đồng cảm vì cùng sống xa quê, cùng thoát ly gia đình và bị coi như hai con chiên lạc.
Ông vẫn mải mê với đời hải hồ, nó giúp ông dừng chân nhiều nơi xa xứ lạ. Đi xa ông mới thấy nhiều người quá khổ, nhiều thân phận xấu số, nhiều cảnh đời bên bờ địa ngục, không được sung túc, no ấm như quê ông. Cuộc sống trên boong thì cũng có lúc nhàm chán, qui trình công tác thì một ngày như mọi ngày, chỉ vui khi có cuộc hải trình xa, dừng chân nơi bến lạ, giao lưu với những con người mới, văn hóa mới. Cũng cần nói là nhiệm vụ chính của ông trên tàu là tẩm liệm các thi hài lính Mỹ hi sinh tại chiến trường trước khi giao về cho thân nhân họ, ông không biết chọn nghề gì, chẳng ngờ sau này nó là cần câu cơm khi ông xuất ngũ.
Ít năm sau nhớ bờ, ông bỏ đời thủy thủ, xuống phía nam Cali kiếm việc. Tình cờ ông được một mục sư Cơ Đốc giới thiệu cho vào làm tại một trường Đại học Y khoa, chuyên lo chăm sóc bảo trì các tử thi để sinh viên sử dụng cho môn cơ thể học. Ông đã bỏ đạo cũ, theo đạo mới, tuy cùng theo một Chúa, cùng thờ một Đấng Chí Cao. Ông đi nhà thờ đều đặn, an phận với công việc, để nhiều thời gian với người chết hơn với người sống nếu không kể số giờ phải nghỉ ngơi.
Lúc này cảm thấy lòng mình trống trải, nên qua môi trường sinh hoạt nhà thờ, ông làm quen với một đồng nghiệp trong trường. Hai người cùng độc thân, bà khoảng trên 50, ông kém bà vài tuổi, hai người nếu tính theo sức học, sở thích, tính nết và lịch sử gia đình thì nghe chừng không hạp, nhưng họ tìm đến nhau trong tình đồng đạo tuy muộn màng nhưng thành tri kỷ gắn bó với nhau gần một phần tư thế kỷ.
Bà vợ ông không phải người Cali, mà gốc vùng Midwest. Bà là con gái duy nhất trong một gia đình mục sư theo đạo Cơ Đốc Phục Lâm, suốt thời niên thiếu theo cha làm công tác truyền giáo tại Peru, một vùng đất tận miền Nam Mỹ. Bà thạo tiếng Spanish, sau khi tốt nghiệp đại học, bà làm cô giáo dạy tiếng Anh cho giáo dân địa phương. Khi ông cụ mất, bà theo mẹ về lại Mỹ, học tiếp ngành quản trị kinh doanh và nhận một công tác kế toán cho trường đại học nơi ông cùng làm việc. Có thì giờ rảnh bà học thêm lấy được cấp bằng MBA nên lương cũng khá.
Hai ông bà không có con, cũng chẳng nhận con nuôi, chỉ có một con chó (cho ông) và con mèo (cho bà) để làm vui ngoài tình tương kính yêu thương giữa hai người. Ấy vậy mà trong cuộc sống họ rất hạp nhau. Ông cũng chẳng mặc cảm vì sở học của mình kém bà, còn bà cũng chẳng ngại kiểu ăn nói có phần bá láp của ông mỗi khi đi đâu. Tức cười là khi sinh hoạt, bạn bè của bà phần nhiều là các giảng sư, giảng viên, nhưng sự có mặt của ông với lối noí chuyện kiểu thủy thủ làm các ông các bà cười ngất, nên chỗ nào có ông là vui, thiếu ông là người ta nhắc.
Có người hỏi rồi ông có quay về San Obispo không, câu trả lời là có. Quê hương là chùm khế ngọt ai mà bỏ được, nhất là đối với người Mỹ hometown luôn là niềm hãnh diện vì là nơi họ đã sanh ra và lớn lên. Với người Việt mình thì Đông Tây gặp nhau ở chỗ này. Nhưng ông trở lại bằng cách nào. Lúc mẹ ông sắp mất, bà biểu cô chị cả gọi ông về, thật sự tình mẫu tử ai bỏ được con, giận thì giận vậy thôi. Các anh em của ông, có người đã lập gia đình có con rồi có cháu vẫn sống quây quần nơi mảnh đất của cha ông từ thời mới di dân, trừ người em gái út nữ tu đi ở xa.
Ít năm sau ông nghỉ hưu, bà thì nhà trường còn cần nên vẫn tiếp tục công việc. Vốn quen lao động chân tay, lại không muốn ở không, ông mở một dịch vụ nhỏ, chuyên sửa giầy dép các lơai. cho cả nam lẫn nữ bên Redlands. Nghề tay trái này ông học của ông nội khi còn ở nông trại. Tiệm của ông khá đông khách, tuy chỉ là khách địa phương, người Mỹ họ quí mấy đôi giầy đóng theo ni tấc vừa bền vừa hạp với chân nên thích sửa, nhất là dân trên vùng Big Bear và sa mạc Mojave, có người lái cả bảy tám  chục miles đưa giầy cho ông sửa.
Coi vậy ngồi hoài cũng mệt, tay búa tay kim mãi cũng nhức vai, tuổi tác có hạn chế nhất định, ông đi vào nghỉ hưu thực sự. Chẳng cần sang nhượng, ông để luôn cái tiệm cho một phụ tá giúp việc ông từ mấy năm nay. Anh này người Việt nam gốc Campuchia, cùng sinh hoạt trong nhà thờ được ông bà coi như con nuôi.
Giã từ với nghề nghiệp giờ là lúc muốn hưởng một chút cho thân nó nhàn, ông bà quay sang du lịch. Trong nước trước, ngoài nước sau, chỉ tiêu trước mắt là đi khắp 50 tiểu bang của Mỹ, tất nhiên kể cả Cali vì còn nhiều cảnh đẹp vẫn chưa đi tới. Phương tiện thì nhất định không đi máy bay, chỉ bằng phương tiện R.V. (loại xe đi xa tiện cho ngủ nghỉ trên xe). Năm 2000 mở đầu thiên niên mới cũng là lúc hoàn thành chỉ tiêu. Bang cuối cùng là Alaska, ông phải lái xe đi ngang địa phận phía tây của Canada.
Nói về chuyện tiền bạc, ông bà không phải là người ít tiền, tiền hưu, tiền để dành, tiền lời dịch vụ, tiền tích lũy mua căn nhà mới, nhưng trong chi tiêu lại rất tiết kiệm, không quá rộng rãi như người ta tưởng. Con cái chẳng có, chẳng phải nuôi ai thêm, chẳng phải lo cho con vào đại học, ngân sách gia đình chỉ tốn nhiều cho các lần du lịch xuyên bang.
Nhưng ông bà không phải chỉ sống cho riêng mình, mà còn đóng thuế cho chánh phủ, đóng góp cho cộng đồng, lại dâng hiến cho nhà thờ, giúp công tác từ thiện, ủng hộ quĩ trường học, chưa kể hay giúp đỡ bằng hiện kim hay đồ gia dụng cho các di dân từ xa đến theo truyền thống lâu đời của người Mỹ.
Nói về giúp đỡ di dân không hiểu sao ông bà hay có cảm tình với sắc dân gốc Á châu nhất là hai chủng tộc gốc Tàu và Việt nam, theo tôi đoán có lẽ hồi trẻ ông hay ta bà vùng venThái bình dương. Trước khi gia đình tôi sang định cư tại Mỹ, thì nhà bà đã có hai chị em người Mã lai gốc Hoa được cho ở nhờ khi họ sang du học tại đây. Họ tìm cách ở lại trong hợp pháp, rồi ra ở riêng sau khi lập gia đình. Một sinh viên Đại hàn thế vào chỗ họ, nhà ông bà lúc nào cũng có người lạ còn ông bà chỉ ở một phòng.
Căn nhà đang ở là của bố bà xây cất từ đầu 60. Vì ông cụ là mục sư nên trong di chúc có ghi sẽ dâng căn nhà này cho giáo hội sau khi con gái của ông mất đi. Di chúc không nói gì đến đời cháu, kể cả người phối ngẫu. Cho nên lúc cuối đời, ông đã phải mua phòng hờ một căn nhà khác nhỏ hơn trường hợp bà chết trước. Chiếc R.V. lúc nào cũng đậu sát garage, mấy lúc sau này khó ngủ nên hay đọc sách khuya, ông sử dụng nó như phương tiện sinh hoạt riêng, vì vậy mà ông đã bị trợt té khi bước hụt lúc xuống thang để vào nhà.
                    ****
Gia đình tôi định cư tại vùng ông bà ở vào đầu thập niên 90 sau khi được chánh phủ Mỹ nhận qua một chương trình tị nạn dành cho các cựu tù cải tạo. Do học chung trườngvới hai cô gái người Mã, bạn thân của con gái tôi đã giới thiệu gia đình tôi với ông bà. Biết chúng tôi từ Việt nam sang, ông có cảm tình ngay vì những ký ức liên hệ một thời với đất nước tôi hồi chiến tranh, nhưng lại chưa một lần đặt chân lên đất. Dần dần quen thân, ông bà coi con gái tôi như hai cô gái kia, đối xử trong tình đồng đạo, thương mến như con.
Lại nghe chuyện của tôi cải tạo trên 12 năm, vợ con một thời nheo nhóc ông bà càng quí mến hơn. Qua giao tiếp, tôi thấy khi nhắc tới Việt nam, có hai từ ông phát âm rất sõi là Saigòn và... Việt cộng. Nói đến Saigòn vì các bạn ông khen con gái ở thành phố này rất đẹp so với các cảng họ từng ghé qua, còn Việt cộng thì ông khâm phục vì họ đánh giặc gìỏi, nhất là trận địa Khe Sanh gây tổn thất nặng cho TQLC Mỹ lúc tàu ông đang đậu ngoài khơi Quảng trị lo yểm trợ tiếp vận cho chiến dịch.
Ấn tượng này ông vẫn giữ nguyên cho đến khi gặp tôi thì niềm cảm phục biến thành nỗi khinh bỉ, vì với tư cách cựu binh, ông không hiểu sao họ có thể đối xử với những người ngã ngựa vừa là đồng loại một cách tàn tệ như vậy khi tàn cuộc chiến! Sau này khi tình bạn kết thân, mỗi lần ông định rủ tôi đi đâu, tôi không đi, hoặc nhờ tôi một việc công ích mà tôi quên chưa làm thì ông hay dọa vui, "tao gửi mày về cho VC bây giờ", dù dọa vui nhưng lại có ép phê mới lạ.
Phần tôi chưa có người Mỹ nào tôi cảm thấy gần gũi thoải mái trong quan hệ thân tình bằng ông AL. Ông có kiểu xử sự xuề xòa tự nhiên như người Nam bộ (dĩ nhiên trước thời thập niên 60). Tôi với ông không có khoảng cách, gặp nhau tay bắt mặt mừng, tay ôm eo ông, noí chuyện theo kiểu tầm phào ngay từ phút đầu. Có điều ông không uống ruợu, cũng chẳng uống bia, không nghiền thuốc lá, chẳng biết uống trà nên anh em cũng khó lai rai ba sợi, được cái  ông lại thích phở bò, chả giò, nem cuốn, không chê nước mắm mà ưa cả cơm chiên cá nướng theo kiểu nấu nướng của  người Việt mình.
Kỷ niệm đáng nhớ nhất là có lần ông rủ tôi sang Mễ, tiện thể ông đi chích một mũi thuốc giảm đau nhức cho cái vai của ông. Sáu tháng chỉ cần chích một mũi, bác sĩ Mỹ không dám làm chuyện này nên ông phải đi Mễ. Đã giao hẹn từ đầu là tôi sẽ đóng vai một anh cận vệ (bodyguard), vì tôi giống Đại hàn, mắt một mí, tướng người có vẻ biết võ. Còn ông cứ coi như một ‘big boss’ không biết làm trong ngành gì, chỉ biết tướng ông cũng đô con, dáng cao đẹp nói làm nhỏ không ai tin. Ông nói đùa với tôi, lâu lâu cũng cho tao lên gân một chút, tụi bác sĩ Mễ không phải chỉ nể người Mỹ vì tiền mà nó còn nể hơn nếu biết mày có chức có quyền, nó chữa trị tốt hơn!
Chẳng mất mát gì lại có dịp làm bạn mình vui, nên tôi thủ vai một cách xuất sắc. Chuyến đi lẽ ra vui hơn nếu đừng có chuyện bực mình trước khi vào đất Mễ. Chả là lúc ăn sáng xong ở Indio, ông bà trả bill riêng không tính phần tôi, biết cái tật sòng phẳng của người Mỹ hồi tôi đi Mỹ tu nghiệp từ năm 66, nhưng trong lòng có phần ấm ức vì đã thân quen, sáu bẩy đô  đâu có đáng gì, làm mất tình, lại cứ nghĩ có lúc họ cho con mình cả mấy ngàn đô không tiếc, nay lại tiếc bố nó bữa ăn sáng!
Trở lại chuyện đi Mễ, khám bịnh chích thuốc xong, phái đoàn ra về. Ông vui vẻ ra mặt, vừa hết đau vừa được bác sĩ, nhân viên clinic kính nể vì ít ai mang theo cận vệ đi khám bác sĩ tại chốn này. Phần ông cũng đóng trọn vai khi nét mặt ra chiều khiêm tốn như không muốn ai biết mình làm... lớn, nhưng suýt lộ bài vì lại giới thiệu rất nhiệt tình về tôi với mọi người ông gặp.
Xe qua biên giới, ông nói nhỏ với viên thanh tra, ‘ông này người Việt nam, cận vệ của tôi.’ Chiếc cần chắn ngang tự động nâng lên, xe chuyển bánh kèm theo cái chào khá lịch sự của người kiểm soát biên giới. Lạ một điều là tôi chẳng cần xuất trình thẻ xanh.
Quay lại Indio cũng cỡ 4 giờ chiều, tôi đang chán vì tưởng sang Mễ được thăm thú cảnh quan ra sao, rút cục thành phố cửa khẩu nằm ngay biên giới, sao chép hệt Mỹ, muốn vào đất Mễ thực sự phải lái thêm 50 miles nữa. Đang ngủ gật, thì xe dừng lại trước quán Sizzler, một loại quán ăn kiểu buffet. Ông bà mời tôi xuống ăn cho vui. Kinh nghiệm hồi sáng, lại biết bà xã ở nhà chờ cơm tôi viện cớ... chưa đói. Ông nói ngay, tụi tao còn đói nữa là mày. Xuống! Lần này vợ chồng tao bao. Tôi làm bộ miễn cưỡng xuống xe. Chưa bao giờ ăn đồ Mỹ ngon như bữa nay, ăn xong mới sực nhớ mình nói với ông chưa đói.
Ngày vui qua mau, người có tình sớm từ giã nhau. Ông ra đi như chuyện tình cờ, giản dị như mơ. Nói về tuổi thọ thì cũng đủ rồi, nhưng vì mến nhau nên chưa muốn ông đi.
Đêm hôm trước ông bị té khi xuống cầu thang của chiếc R.V. Bác sĩ cho biết ông phải giải phẫu thay xương hông. Trước hôm mổ, tôi và bầu đoàn thê tử vào thăm ông, mang theo cả thằng cháu ngoại mà ông rất thích vì nó cũng gọi ông là grandpa. Chuyện trò vui vẻ, chúc ông ca mổ bình an. Thằng cháu hôn ông chúc "Goodnight, Grandpa Al". Ông xúc động ra mặt, tôi biết đêm đó ông ngủ ngon.
Chuyện đời khó đoán, chẳng ai biết chuyện ngày mai, dù chỉ là ngày hôm sau. Ca mổ dự trù 11 giò trưa, định tối vào lại xem sao, thì khoảng 5 giờ chiều được tin ông mất. Chính bà cũng không ngờ, tưởng chuyện mổ xương hông đâu có gì phức tạp, bà lại còn đi ăn trưa rồi mới vô thăm ông. Nên chẳng ai được gặp ông, bà thì như ân hận, chúng tôi phải an ủi mãi không thôi. Về sau được biết ca mổ xấu đi do biến chứng của bệnh suyễn ông nhiễm từ hồi còn trẻ, nhưng thôi cũng là số cả.
Như di chúc để lại, chuyện này ông cũng đã nói cho nhiều người nghe, thân xác ông đồng ý hìến cho trường đại học nơi ông làm việc, gắn bó trong cương vị bé nhỏ của mình mấy chục năm qua. Gia đình ông tôn trọng ước nguyện của ông.
Trong buổi lễ tưởng niệm tại một thánh đường lớn vùng Inland Empire, ông được bạn bè, kể cả số người thân trên San Obispo kéo xuống, dành cho những cảm xúc tiếc thương rất chân tình. Tấm hình được phóng lớn mặc đồ thủy thủ lúc còn trẻ được đặt ở trung tâm. Bà biết ông thích tấm hình này, thường được đặt trên chiếc piano nơi phòng khách. Phần phát biểu, tang quyến dành hết cho bạn bè thân quen.
Ba người đại diện nhóm thọ ơn, một anh con nuôi gốc Campuchia, một cô gái Mã lai gốc Hoa, và tôi đại diện cho một gia đình H.O., vận dụng hết khả năng Anh ngữ của mình để biểu lộ lòng biết ơn chân thành qua lối xưng hô thân mật vừa Daddy, Uncle, vừa Brother tùy vai vế. Người Mỹ có tập quán những buổi lễ như thế này, tuy buồn nhưng nên gợi lại những kỷ niệm dí dỏm, vui vui khi nhớ người đã khuất, nhưng tôi mắt đẫm lệ, giọng nghẹn ngào đã không làm vừa ý người thủy thủ một thời vui kiếp hải hồ trên Biển Đông giáp bờ quê hương tôi. Sau buổi lễ, mấy chị em ruột của ông đến gặp tôi bày tỏ những cảm tình coi nhau như tình huynh đệ, họ cảm nhận đươc mức độ tôi quí mến ông. Tôi cũng gặp riêng bà nữ tu, em gái út của ông để trao đổi những gì ông tâm sự với tôi về bà, bà tỏ vẻ xúc động. Nét mặt bà còn phảng phất nét đẹp của một thời son trẻ nhưng vẻ sầu muộn hiện rõ trên đôi mắt.
Nhớ lúc sinh thời, ý nguyện của ông là sau khi đi hết 50 tiểu bang, ông bà sẽ làm một cuộc du lịch qua hai xứ, một chuyến qua Việt nam, một chuyến về Peru, nơi mà mỗi người có những kỷ niệm khó quên thuở thiếu thời. Ông sẽ đi với tôi qua Việt nam, ông sẽ đi với bà qua Peru. Cả hai cuộc đi đều không thực hiên được. Tôi có một phần lỗi vì trước đó ít năm (khoảng 98,99) ông có gợi ý chúng tôi cùng đi, nhưng tôi e ngại vì một anh cựu tù cải tạo dẫn một ông Mỹ cựu binh lang thang chỉ trỏ trên cảng Saigòn chắc không tránh khỏi con mắt tò mò của đám công an. Bây giờ là lúc thuận lợi cho chuyến đi thì ông lại bỏ đi sang bến khác.
Có điều an ủi là mọi người biết ông ra đi trong thanh thản và tin chắc rằng ông đã ghé bến bình an. Chúng tôi nhớ ông như một người bạn lúc sống thì chan hòa đằm thắm, thích giúp tha nhân, khi chết thì thân xác hiến cho khoa học, tiền cũng đem dâng, nhà đem hiến. Ra đời trần truồng, ra đi tay trắng, không mộ phần, không kỷ niệm chương, chẳng để lại dấu vết gì của một kiếp người trên đất.
Ông có để lại, thực sự ông có để lại cái tình, một chữ tình viết hoa, một di sản của những con người tốt bụng, mà những người còn sống, trong đó có gia đình tôi, không thể nào quên.

Đỗ Xuân Tê
(Mùa Thanksgiving 2012)